<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Lăng Gia Long

Vị trí
 

Lăng Gia Long là quần thể lăng tẩm của nhiều thành viên và dòng họ nhà vua. Quần thể lăng nằm trên vùng núi Thiên Thọ, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Cách thành phố Huế 16km.

Sơ lược tiểu sử vua Gia Long
 

Vua Gia Long

Gia Long là vị vua sáng lập ra triều Nguyễn. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Ánh, thường gọi là Nguyễn Ánh (阮福映; 1762 - 1820), lên ngôi ngày 1 tháng 6 âm lịch năm 1802, đặt niên hiệu là Gia Long (嘉隆).

Nguyễn Ánh là con thứ ba thứ 3 của Nguyễn Phúc Luân và Nguyễn Thị Hoàn, cháu nội của Võ Vương Nguyễn Phúc Hoạt, sinh ngày 15/1 Nhâm Ngọ (8/2/1762). Lúc còn tuổi thơ ấu, ông rất được Chúa Nguyễn Phúc Thuần thương yêu nên được ở trong học đường Vương phủ. Vào tuổi thiếu niên, ông đã tỏ ra là người tài trí, khôn ngoan với đức tính khoan hòa, đầy nghị lực của người có khả năng lập nghiệp lớn.

Năm 1777, khi Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần, cùng với cháu là Hoàng thân Nguyễn Phúc Đồng (con Nguyễn Phúc Luân - anh Phúc Ánh) và Tống Phước Thuận, Nguyễn Doanh Khoảng... bị Nguyễn Huệ bắt tại Long Xuyên và đem về Sài Gòn giết, thì chỉ có một mình hoàng thân Nguyễn Phúc Ánh thoát nạn. Ông chạy ra đảo Thổ Chu (trấn Hà Tiên) và từ đó mọi quyền hành quốc sự của các chúa Nguyễn do ông thống lĩnh.

Năm 1778, khi 16 tuổi ông được ba quân suy tôn lên làm nguyên soái nhiếp chính quốc và khởi binh chiếm lại Gia Định. Trong 24 năm, được sự giúp đỡ của dân chúng miền Nam, Nguyễn Ánh đã cùng với các tướng lĩnh vượt qua mọi gian nguy, bao phen vào sinh ra tử, bền bĩ chống lại quân Tây Sơn.

Cuối cùng, với sự hậu thuẫn của người Pháp cũng như nhờ có các mâu thuẫn nội bộ của nhà Tây Sơn, ông đã khôi phục lại xứ Đàng Trong của các Tiên Chúa. Năm 1801, ông tiến quân ra Bắc Hà, đánh bại hoàn toàn nhà Tây Sơn; năm 1802, lập nên nước Việt Nam thống nhất như ngày nay.

Gia Long làm vua được 18 năm (1802-1819), mất vào ngày 19 tháng Chạp năm Kỷ Mão (ngày 3 tháng 2 năm 1820), hưởng thọ 58 tuổi. Sau khi mất, bài vị vua Gia Long được đưa vào thờ ở Thế Miếu và có Miếu hiệu là Thế Tổ Cao Hoàng đế. Vua có 31 người con (13 con trai và 18 con gái).

Lịch sử xây dựng lăng
 

Công tác xây dựng lăng kéo dài trong 6 năm từ năm 1814 đến năm 1820 mới hoàn thành, ngoài ra còn có một số kiến trúc được xây dựng sau đó nữa. Riêng Thiên Thọ lăng, tức lăng của vua Gia Long và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu được xây dựng kéo dài trong nhiều năm dưới ba đời vua từ vua Gia Long đến Thiệu Trị.

Đích thân vua Gia Long đã thám sát, duyệt định vị trí, quy hoạch và chỉ đạo công tác thiết kế cũng như giám sát tiến độ thi công. Sử cũ cho hay, thầy Địa lý Lê Duy Thanh (con trai nhà bác học Lê Quý Đôn) là người tìm được thế đất này, nơi mà theo ông “đã tập trung được mọi ảnh hưởng tốt lành tỏa ra từ nhiều núi đồi bao quanh”, nơi mà “ảnh hưởng tốt lành sẽ còn mãi mãi trong suốt 10 ngàn năm”. Tuy nhiên, khi xác định vị trí để an táng thi thể của nhà vua sau này, Duy Thanh đã chỉ một nơi xa phía ngoài một trũng sâu hình bán nguyệt, cho đó là nơi long mạch tốt. Vua Gia Long đã đích thân cưỡi voi đến nơi xem xét và không đồng ý nên đã chọn nơi mai táng như hiện thấy.

Tấm bia “Thánh Đức Thần Công” ở bên trái lăng do Minh Mạng viết ngày 10/8/1820 và dựng ngày 18/9/1820. Hai hàng tượng văn võ quan viên và voi ngựa bằng đá ở bái đình mãi đến tháng 4/1833 mới hoàn tất. Hai cánh cửa ở “Bửu Thành môn” lúc đầu làm bằng gỗ. Đến đời Thiệu Trị (1845), nhà vua đã cho làm hai cánh cửa bằng đồng thay thế.

Cấu trúc lăng
 

Lăng rộng 2.875ha, lớn nhất trong 7 khu lăng mộ của các vị vua nhà Nguyễn. Lăng Gia Long được xếp vào vị trí xa xôi cách trở nhất đối với trung tâm của cố đô, nhưng lại là khu lăng hoành tráng nhất về cảnh trí thiên nhiên.

Trong khu vực còn có các ngôi lăng riêng biệt của các chúa Nguyễn và gia đình như sau:

Tảm vua Gia Long - Ảnh: Đào Hoa Nữ
  • Lăng Quang Hưng của bà vợ hai chúa Nguyễn Phúc Tần (1620 – 1687).

  • Lăng Vĩnh Mậu của bà vợ cả chúa Nguyễn Phúc Trăn (1650 – 1738).

  • Lăng Trường Phong của chúa Nguyễn Phúc Chu (1697 – 1738).

  • Lăng Thoại Thánh của bà vợ hai chúa Nguyễn Phúc Luân (mẹ của Gia Long).

  • Lăng Hoàng Cô của Thái trưởng công chúa Long Thành (chị vua Gia Long).

  • Lăng Thiên Thọ Hữu của bà Thuận Thiên (mẹ đẻ Minh Mệnh).

  • Lăng Thiên Thọ là lăng vua Gia Long và bà Thừa Thiên Cao hoàng hậu, vợ cả của Gia Long.

Lăng tẩm nhà vua nằm trên một quả đồi bằng phẳng, rộng lớn. Trước có ngọn Đại Thiên Thọ án ngữ, sau có bảy ngọn núi làm hậu án. Bên trái có 14 ngọn núi là “tả thanh long” và bên phải có 14 ngọn làm “hữu bạch hổ”. Mật độ kiến trúc trong lăng tương đối thưa. Các công trình được trải ra theo chiều ngang. Khuôn viên lăng rộng rãi mênh mông, nhưng ở đây không có lâu đài đình tạ và cũng chẳng xây dựng la thành. Núi đồi chung quanh lăng giăng ra như một vòng thành thiên nhiên bao bọc.

Tổng thể lăng được chia là ba khu vực

Chính giữa là lăng mộ vua và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu

Qua khỏi sân chầu có các hàng tượng đá uy nghiêm và bảy cấp sân tế là Bửu Thành ở đỉnh đồi. Trong Bửu Thành có 2 mộ đá nằm song song, cách nhau chỉ một gang tay, có cùng khuôn khổ và kích thước, bên trên đều có hai mái chảy xuôi trông như những mái nhà mà thời gian đã nhuộm đen thành màu than đá. Không một nét chạm trổ, chẳng một màu sơn thếp, tất cả chỉ là những tấm đá thanh phẳng lì, trơ trụi, tạo ra giữa chốn hoang liêu này một không khí tĩnh mịch và uy nghiêm. Nhưng hai ngôi mộ nằm sát bên nhau biểu hiện biết bao tình cảm cao đẹp thuỷ chung giữa vua và hoàng hậu đã từng vào sinh ra tử với nhau trong suốt cuộc đời chinh chiến. Đó là một điểm độc đáo của lăng Gia Long mà người ta không tìm thấy ở lăng vua nào khác. Đó là kiến trúc được sáng tác theo quan niệm “Càn Khôn hiệp đức” biểu tượng cho hạnh phúc và thuỷ chung.

Bia Gia Long - Ảnh: Đào Hoa Nữ

Bên phải là khu tẩm điện Minh Thành

Điện Minh Thành là nơi thờ Hoàng đế và Hoàng hậu. Đây là công trình kiến trúc chính trong khu vực tẩm. Điện cũng được xây dựng đơn giản, cũng chẳng có gì hoa mỹ, rườm rà. Sườn điện chạm trổ đơn sơ nhưng chắc khoẻ. Các trang trí trong nội thất đều chạm trổ hình chữ “thọ” ở giữa và dây lá cách điệu ở chung quanh. Đặc biệt đáng chú ý ở lăng Gia Long là tất cả những con rồng ở các bậc sân, bậc thềm ở lăng Gia Long đều được đắp bằng vôi gạch chứ không chạm bằng đá như ở các lăng về sau.

Bên trái khu lăng là Bi Đình

Nay chỉ còn tấm bia lớn ghi “Thánh Đức Thần Công” do vua Minh Mạng soạn, ca ngợi vua cha, được chạm khắc tinh tế, sắc sảo. Đây là một tấm bia đẹp, được khắc chữ và hình ảnh trang trí chung quanh thật uyển chuyển, công phu. Nghệ thuật và kỹ thuật thể hiện tấm bia đá này vượt hẳn bia Vĩnh Lăng của thế kỷ XV ở khu di tích Lam Sơn (tỉnh Thanh Hoá) và những tấm bia tiến sĩ của thế kỷ XVII trong Văn miếu Quốc Tử Giám ở thành phố Hà Nội.

Các công trình kiến trúc thành quách và cung điện dưới thời Gia Long nói chung và kiến trúc lăng vua Gia Long nói riêng đã chứng tỏ ông vua đầu triều Nguyễn chẳng những có tài về chinh chiến và tổ chức lại đất nước mà còn có tài về kiến trúc nghệ thuật nữa.

Lăng Gia Long là mô hình kiến trúc lăng tẩm đầu tiên ở Huế để sau đó các vua kế nhiệm tham khảo và mô phỏng để xây lăng cho mình. Lăng này đã góp phần biểu hiện phong cách một ông vua khai sáng triều đại.

Vùng đất lăng Gia Long là quần sơn với 42 đồi núi lớn nhỏ, xưa trồng đầy thông, kín cả một vùng đồi núi hùng vĩ tạo thành một công viên ngoài trời rộng lớn vừa hoành tráng, vừa trầm mặc, là tác phẩm kết hợp giữa thiên nhiên và tân tạo một cách tài tình.

Theo gợi ý của L. Cadière từ hơn 60 năm trước đây, du khách nên viếng lăng Gia Long vào buổi chiều. Đó là thời khắc có thể ngắm cảnh hoàng hôn đang đến từ phía bên kia các hồ nước. Lấp lánh trong nắng vàng là những bóng thông xào xạc, vi vu đang soi bóng xuống mặt hồ gợn sóng. Chính lúc ấy, du khách mới cảm nhận hết vẻ đẹp hùng tráng và kỳ vĩ của khu lăng này. Phong cảnh xinh tươi hòa với nét uy nghi của đồi núi xa xa. Sự khắc khổ tĩnh lặng của cái chết hòa với sự sinh động, nét tuyệt mỹ của thiên nhiên chung quanh. Vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn yên nghỉ trong sự tĩnh lặng tuyệt vời của vũ trụ.

Lăng Gia Long là một bức tranh trác tuyệt về sự phối trí giữa thiên nhiên và kiến trúc, trong đó, thiên nhiên là yếu tố chính tạo nên nét hùng vĩ của cảnh quan. Đến thăm lăng, du khách được thả mình trong một không gian tĩnh lặng nhưng đầy chất thơ để suy ngẫm về những thành bại của cuộc đời mình cũng như vinh nhục của ông vua đầu triều Nguyễn.


©2021 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt