<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Vua Lê Thánh Tông

Tiểu sử
 

Lê Thánh Tông (黎聖宗) là vua thứ tư nhà Hậu Lê, tên huý Lê Tư Thành (黎思誠), còn có tên húy khác là Lê Hạo (黎灝), sinh ngày 20-07-1442, tại chùa Huy Văn nay quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Ông là con Lê Thái Tông và bà Ngô Thị Ngọc Dao. Cháu nội vua Lê Thái Tổ.

Lúc trước được phong là Bình Nguyên vương, sau đổi thành Gia vương. Khi Lê Nghi Dân bị truất phế (1459) ông được Nguyễn Xí cùng một nhóm đại thần đưa lên ngôi vào năm Canh Thìn (1460) khi ông 18 tuổi. Ông được đánh giá là một trong những vị vua tài ba trong lịch sử Việt Nam

Ông thông minh, thông hiểu nhiều môn học thuật. Triều đại ông thịnh vượng với nhiều cải cách về kinh tế, chính trị, văn hóa. Ông tự xưng là Thiên Nam động chủ, hoặc Đạo Am chủ nhân, lập ra Tao Đàn gồm 28 vị đại thần đứng đầu, gọi là Nhị thập bát tú, mà ông là Tao Đàn đô nguyên soái.

Năm Đinh Tỵ ngày 10-1 ông mất (3-3-1497 Dương lịch), hưởng dương 55 tuổi, ở ngôi 37 năm, đổi niên hiệu hai lần:

  • Quang Thuận 1460-1469.

  • Hồng Đức 1470-1497.

Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí - nhân vật chí, khi sắp mất ông có bài thơ Tự thuật:

Nguyên văn:

“五 十 年 花 七 尺 区

綱 場 如 切 却 成 柔.

丰 吹 花 外 黃 花 在,

露 唈 庭 前 陆 柳 癯.

碧 汉 望 穷 雯 渺 渺,

皇 粮 夢 醒 夜 悠 悠.

蓬 萊 山 上 音 熔 斷,

冰 玉 幽 魂 入 梦 旡”.

Phiên âm:

“Ngũ thập niên hoa thất xích khu,

Cương trường như thiết khước thành nhu.

Phong xuy hoa ngoại hoàng hoa tại,

Lộ ấp đình tiền lục liễu cù.

Bích hán vọng cùng văn diểu diểu,

Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du.

Bồng lai sơn thượng âm dung đoạn,

Băng ngọc u hồn nhập mộng vô”.

Bản dịch:

“Tấm thân bảy thước tuổi năm mươi,

Dạ sắt ta nay bỗng rã rời.

Ngoài cửa hoa tàn vì gió thổi,

Trước sân liễu ốm bởi sương rơi.

Trông mây bích hán chừng mờ mịt,

Tỉnh giấc hoàng lương vẫn tối hoài.

Bồng đảo thần tiên xa tiếng điệu,

Mộng hồn trong trắng luống chơi vơi”.

Tác phẩm
 

Lê Thánh Tông làm thơ khá nhiều, cùng các thi hữu Tao đàn xướng họa. Các tác phẩm còn lưu lại đều là những tác phẩm sáng giá trong kho tàng văn hóa dân tộc:

  • Thiên Nam dư hạ tập

  • Lê Thánh Tông thi tập

  • Hồng Đức quốc âm thi tập

  • Xuân vân thi tập

  • Cổ tân bách vịnh

  • Quỳnh Uyển cửu ca

  • Minh Lương cẩm tú

  • Văn minh cổ súy

  • Châu cơ thăng thưởng

  • Sĩ hoạn châm qui

  • Hồng Đức thiện chính thư

Bộ “Thiên Nam dư hạ tập (100 quyển): Lê Thánh Tông làm bài tựa, sau đó các quan họ Thân (Thân Nhân Trung) và họ Đỗ (Đỗ Nhuận) soạn tập. Đại lược phỏng theo sách Hội yếu của các đời Đường, Tống”.

Về sách Thiên Nam dư hạ, Phan Huy Chú chép rõ là “Thiên Nam dư hạ tập, 100 quyển. Năm Hồng Đức thứ 14 (1183), Lê Thánh Tông sai các quan phụ trách về văn từ là Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận soạn tập. Trong sách ấy ghi chép đủ các chế độ, luật lệ văn hàn (cũng như văn thư) điển lệ; cáo sắc; đại khái phỏng theo lối Hội yếu của các đời Đường, Tống”.

“Xét ra sách Thiên Nam dư hạ tập, từ sau đời Lê Trung Hưng, cả bộ bị tan nát, phần còn lại, mươi phần chỉ được một, hai phần. Tuy các triều vẫn có tìm kiếm, cũng khó mà thu nhặt được. Niên hiệu Cảnh Hưng, năm Mậu Tý (1768), Tĩnh vương Trịnh Sâm tìm kiếm mãi chỉ được độ hơn 20 quyển. Đến khi loạn lạc lại bị binh hỏa làm cháy mất. Nay, các cố gia còn giữ được, tôi được trông thấy, chỉ độ bốn, năm quyển thôi. Cả bộ sách chép những tài liệu về chế độ của một đời ấy sẽ là phép tắc đã được thành lập cho mãi mãi sau này mà bị tan nát như thế, đáng tiếc lắm thay!”.

Bộ Quỳnh Uyển cửu Ca (1 quyển): Vua Lê Thánh Tông, triều (Lê) làm, chọn 28 từ thần làm bài đọc lại (Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú).

Quỳnh uyển cửu ca là tập thơ gồm 89 bài của Lê Thánh Tông làm, sau mỗi bài ấy có bài họa lại của 28 từ thần trong Hội Tao đàn nhị thập bát tú. Trong Văn tịch chí, Phan Huy Chú có ghi tên 9 bài nguyên xướng của Lê Thánh Tông là các bài: Phong niên (năm được mùa); Thần tiết (khí tiết bề tôi); Minh lương (Vua sáng, tôi giỏi); Anh hiền (Vua anh minh, bề tôi hiền tài), Kì khí (Khí lạ, tức là điềm lành), Thư thảo (chữ tốt) Văn nhân (nhà văn); Mai hoa (Hoa mai) là 9 chủ đề xướng họa.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt