<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Vua Lê Thái Tông

Vua Lê Thái Tông (黎太宗) tên huý là Lê Nguyên Long (黎元龍) sinh ngày 20-11-1423 là vua đời thứ hai nhà Hậu Lê, miếu hiệu Thái Tông Văn hoàng đế. Ông sinh tại Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá, nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

Ông là con thứ hai  của vua Lê Thái Tổ (黎太祖), mẹ là Phạm Thị Ngọc Trần. Ông lên ngôi ngày 8 tháng 9 Quý Sửu (1433), mới 10 tuổi, do Đại tư đồ Lê Sát phụ chính. Bấy giờ mâu thuẫn trong triều nổ ra giữa những khai quốc công thần, đứng đầu là Tư đồ Lê Sát cùng Lê Ngân và bên kia là các quan xuất thân khoa bảng. Dù còn ít tuổi nhưng ông tỏ ra là người thông minh, quyết đoán, đủ bản lĩnh đối phó với những vấn đề phức tạp của triều đình.

Lê Sát ít học nhưng là công thần nên được Lê Thái Tổ thăng làm Tư đồ, cậy quyền làm nhiều điều trái phép, những ai không hợp ý tìm cách hãm hại. Các gian thần Trình Hoàng Bá, Lê Quốc Khí, Đinh Bang Bản, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư trước có công về phe với Sát vu cáo Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn, sau vua Thái Tổ đã có lệnh cấm những người đó tham dự triều chính và không được tố cáo nhưng Lê Sát vẫn cố tiến cử với Thái Tông. Vua Thái Tông theo lời can của Nguyễn Thiên Tích, Bùi Cầm Hổ, cương quyết giữ phép tắc của cha, không phục chức cho mấy người đó.

Khi Thái Tông đủ 15 tuổi, lẽ ra Lê Sát phải rút lui nhưng vẫn tham quyền cố vị, tỏ ra chuyên quyền. Thái Tông bất bình nên bãi chức Lê Sát và Lê Ngân rồi hạ lệnh giết chết.

Khi lớn lên vua Thái Tông đã xông pha trận mạc, chỉ đạo các tướng lĩnh đánh thắng nhiều trận lớn. Vào thời Lê Thái Tông có vài lần bạo loạn ở các vùng xa xôi, vua thân chinh hoặc cử các tướng đi đánh dẹp. Các nước lân bang như Xiêm La (Thái Lan), Chiêm Thành, Ai Lao đều có sứ thần đi lại và thường xuyên tiến cống.

Ngoài ra, ông còn quy định lại những cách thức tiêu dùng tiền và lụa vải ở trong nước; cứ 60 đồng là một tiền; lụa thì cứ dài 30 thước, rộng 1 thước 5 tấc trở lên là một tấm; giấy thì 100 tờ làm một tập.

Năm 1442, ông mở khoa thi tiến sĩ, những người thi đỗ đều được khắc tên vào bia đá. Các tiến sĩ được khắc tên vào bia ở Văn Miếu bắt đầu từ đó.

Khoảng tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), nhân chuyến đi công cán miền đông, đến mùng 4 tháng 8, lúc trở về đi cùng với Nguyễn Thị Lộ (người thiếp của Nguyễn Trãi). Vua nghỉ đêm và trò chuyện cùng Nguyễn Thị Lộ ở Lệ Chi Viên (nay thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) và đột ngột băng hà vào lúc nửa đêm. Nguyễn Thị Lộ bị kết tội giết vua, sau đó bị bắt giam cùng Nguyễn Trãi và bị tru di tam tộc.

Ông mất mới có 19 tuổi, chôn tại Hựu Lăng, làng Lam Sơn.

Ông ở ngôi 9 năm, đổi niên hiệu 2 lần:

  • Thiệu Bình: Giáp Dần 1434 – Kỷ Mùi 1439 (6 năm).

  • Đại Bảo: Canh Thân 1440 - Nhâm Tuất 1442 (3 năm)


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt