<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Kim Sơn
Vĩnh Ngọc - TP Nha Trang - Khánh Hoà

Vị trí

Chùa tọa lạc ở xã Vĩnh Ngọc, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, cách trung tâm thành phố khoảng 4km về hướng Tây Bắc.

Lịch sử

Chùa do Thiền sư Pháp Ấn khai sơn vào thời Hậu Lê trên một ngọn đồi đá sát mé sông Nha Trang. Trên triền phía Bắc là một gành cao ngó xuống mặt nước, cho nên tục gọi ngọn đồi là Núi Gành. Truyền rằng khi Hòa Thượng dọn núi cất chùa có được một số vàng chôn. Nên gọi núi là Kim Sơn và đặt tên chùa là Kim Sơn Tự.

Năm Canh Thân (1740), Chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi tên chùa là Quy Tôn Tự và ban tấm biển sơn son thiếp vàng khắc 3 chữ đại tự "Quy Tôn Tự" cùng 8 chữ lạc khoản "Quốc Chủ Từ Tế Đạo Nhân ngự đề". Tấm biển của chúa ban chứng tỏ rằng chùa đã có từ thời Lê Ý Tôn, niên hiệu Vĩnh Hựu (1735-1740), hoặc thời Lê Thuần Tôn, niên hiệu Long Đức (1732-1735). Lúc bấy giờ chúa Nguyễn chưa xưng vương hiệu.

Đến năm 1845, Vua Thiệu Trị sắc hạ chùa theo danh hiệu cũ. Dưới triều Khải Định (1916-1924), chùa còn được gọi là chùa Bà Nghè do bà vợ một vị quan đã xuất gia và trùng tu ngôi chùa. Chùa bị hỏng hoàn toàn do chiến tranh vào năm 1946. Ngôi chùa ngày nay mới được xây dựng trong những thập niên gần đây.

Cảnh quan

Chung quanh chùa có mấy gốc me cổ thvà một số cây mới trồng. Chùa hướng về Đông Nam, lấy hòn đảo Bồng Nguyên, tục gọi là Hòn Miễu, ở Cửa Bé làm tiền án. Bốn mặt núi non trùng điệp. Biển Nha Trang ở phía Đông trông như một vũng nước nhỏ ánh màu ngân.


Hương Hồ - Hương Trà - Thừa Thiên - Huế

Chùa Kim Sơn ở làng Lưu Bảo, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Đây là một ngôi chùa cổ gắn liền với nhiều thăng trầm của đất nước.

Chùa xây dựng từ rất lâu, không rõ năm nào. Theo các tài liệu còn lưu lại, chỉ biết chùa được trùng tu lần thứ nhất vào thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1649-1687) khi các chúa bắt đầu mở rộng bờ cõi vào Nam. Có lẽ chùa được sửa nhiều lần nữa cùng với năm tháng. Thời Minh Mạng, Thuận Thiên Cao hoàng hậu cho đại trùng tu. Sau đó không ai coi sóc, chùa dần dần trở nên nên hoang phế.

Ban đầu chùa có tên là Bảo Sơn. Năm 1866, Đoàn Trưng, Đoàn Trực mưu giết vua Tự Đức, lập con của Hồng Bảo. Vì nhiều nhà sư có dính dáng với biến động này, vua giận, toan phá chùa, may nhờ hoàng hậu can được, chùa chỉ bị đổi tên thành Ngọc Sơn.

Năm 1667, chùa được trùng tu và khắc bia đá ghi lại sự kiện này, đây được xem là tư liệu Hán văn cổ nhất được tìm thấy ở Huế.

Đến khi bão Giáp Thìn (1904) thổi qua kinh thành dưới đời Thành Thái thì chùa sập hẳn.. Thời gian này, triều Nguyễn có nhiều thay đổi và biến cố nên chùa không được quan tâm tôn tạo. Tượng chùa được đưa vào thờ tạm trong liêu. Sau đó, đến đầu thời Duy Tân thì tượng của chùa được thỉnh qua chùa Thiên Mụ để phụng thờ. Chùa Kim Sơn gần như bị dẹp bỏ, tăng chúng trong chùa cũng bỏ đi. Vị trụ trì của chùa lúc này được triều đình cho phép xây một nhà tăng trên phế tích của chùa cũ để thờ tự các vị tăng đã có công với chùa. Như vậy, chùa Kim Sơn lúc này đã không còn tồn tại.

Năm 1944, bác sĩ Lê Đình Thám và hội An Nam Phật học xây dựng Phật học viện đầu tiên trên đồi Kim Sơn, nơi dấu tích của chùa Bảo Sơn cũ và đặt tên là Tùng Lâm Kim Sơn. Từ đó, chùa mới dựng trên nền cũ gọi là chùa Kim Sơn. Từ đây, chùa Kim Sơn gắn liền với lịch sử phục hưng của Phật giáo cũng như những chứng tích của thời kháng chiến chống Pháp. Chùa từng là nơi đào tạo tăng tài với các tên tuổi của các sư thầy như Thiện Minh, Thiện Siêu, Trí Quang, Thiện Hoa, Trí Tịnh, Minh Châu..., đặc biệt là sư thầy Trí Thuyên. Sư Thích Trí Thuyên đã bị Pháp sát hại tại chùa vào ngày 23/3/1947, lăng mộ nay vẫn còn.


Vĩnh Lương - TP Nha Trang - Khánh Hoà

Chùa Kim Sơn ở số 27 tổ 1A, thôn Võ Tánh, phường Vĩnh Lương, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà.          


Số 223 phố Kim Mã - Quận Ba Đình - Thành phố Hà Nội

Ngôi chùa Kim Sơn hiện nay nằm ở phố Kim Mã, nơi giao nhau với phố Giang Văn Minh, còn có tên gọi là Am Vạn Linh, chùa Tàu Mã hoặc chùa Kim Mã. Đây nguyên là bãi pháp trường thời Lý, mồ mã ngổn ngang nên dân quanh vùng đã lập một am nhỏ để thờ cô hồn. Sau này, thi hài các chiến sĩ tử trận trong trận Đống Đa cũng được đưa vào an táng tại khu nghĩa địa này.

Năm 1831, người làng Kim Mã sửa lại am, dựng tượng Phật và gọi là chùa Tàu Mã. Đến năm 1897, đổi tên thành chùa Kim Sơn. Nhưng phải sau các cuộc xây dựng lớn vào những năm 1932 và 1953, cùng với việc di chuyển nghĩa địa Kim Mã lên Bất Bạt năm 1952, ngôi chùa mới trở nên khang trang với các toà Tam Bảo, đền thờ Mẫu, Tam quan.... Khi chùa Linh Sơn ở phố Nguyễn Trường Tộ bị bom Mĩ tàn phá, toàn bộ số tượng Phật của chùa ấy đã đưa về đặt trong gian thờ Vạn Linh tại chùa Kim Sơn, khiến Phật điện trong chùa thêm phần phong phú và cổ kính.

Đáng chú ý là ở di tích này có treo một bức hoành phi khá lớn mang dòng chữ Hán "Kim Sơn cổ sái" (chùa cổ Kim Sơn). Việc dùng chữ sái, mang nghĩa chùa là dấu ấn của một cách viết rất cổ, ít gặp trong các chùa chiền nước ta. Điều đó có thể cắt nghĩa nguồn gốc xa xưa của chùa Kim Sơn tại vùng đất này.

Ngôi chùa cũng còn lưu giữ một pho tượng đồng cao 76,8cm, nặng khoảng 30kg, được thể hiện trong tư thế đứng thẳng, với tay kết ấn vô uý, trên một bệ hình hộp đúc liền khối. Pho tượng có mái tóc xoắn ốc, đỉnh đầu gồ lên như búi tóc, khuôn mặt hình trái xoan đôn hậu, mắt khép hở hơi xếch, cặp lông mày thanh mảnh uốn cong. Sóng mũi của tượng thẳng cao, cánh mũi nở, miệng mỉm cười với làn môi mỏng, tai to và dài. Tượng có dáng thon thả. hai chân tượng đứng thẳng song song, bàn chân được thể hiện khá mập, tạo sự vững chải. Toàn thân của pho tượng được mặc áo cà sa bó sát người. Ở mặt trước cùa chân bệ tượng có khắc chìm một dòng chữ Lào. Nhiều nhà nghiên cứu  đã cho rằng tượng đã du nhập vào Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hoá Phật giáo từ trước đây.

Vào ngày mồng 5 tết Âm lịch, nhân ngày kỉ niệm Đống Đa, chùa Kim Sơn thường vẫn lập đàn chay để tưởng niệm các nghĩa sĩ Tây sơn đã anh dũng hi sinh để góp phần vào chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1789, giải phóng Thăng Long khỏi sự chiếm đóng của quân xâm lược nhà Thanh.

Nằm ngay ở phố Kim Mã mới mở rộng và khu dân cư đông đúc, chùa Kim Sơn với một kiến trúc bề thế, vững chắc và một khuôn viên thoáng đãng, là một cảnh quan đẹp, hài hoà với môi trường xung quanh. Ngoài ý nghĩa thờ Phật, ngôi chùa còn là dấu ấn của một vùng đất lâu đời ở Thăng Long xưa, đồng thời cũng có thể xem như một đài kỉ niệm trong tâm tưởng của người Hà Nội đối với một chiến thắng lớn trong lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc ta.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt