<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Kênh Thoại Hà

Kênh Thoại Hà còn gọi kênh Long Xuyên - Rạch Giá, là con đường giao thông thủy quan trọng của vùng Tứ Giác Long Xuyên, nối thành phố Long Xuyên - tỉnh An Giang với thành phố Rạch Giá - tỉnh Kiên Giang. Đây cũng là con kênh đầu tiên mà triều đình nhà Nguyễn cho đào ở miền Nam, nó có vị trí quan trọng cho giao thông vận tải đường sông và phát triển nông nghiệp trong vùng từ bao đời nay.

Một số tên gọi khác
 

Ngoài hai tên gọi trên, kênh còn có một số tên gọi khác như: kênh Tam Khê, kênh Đông Xuyên, Đông Xuyên cảng đạo....Quốc triều chính biên và Nguyễn Liên Phong gọi tên kênh Lạc Dục (Tác giả Nguyễn Hữu Hiệp trong bài Kinh Thoại Hà và những điều ngộ nhận - sách Nam Bộ xưa và Nay cho rằng gọi như thế là sai vì Lạc Dục chỉ là một nhánh của Tam Khê). Người Khmer gọi là Prêk Kramuõ sa, tiếng Việt đọc là Ba Lạch, Ba Rách hay Ba Rạch, nghĩa là "sông sáp trắng", nay tên quen dùng là Ba Dầu hoặc Ba Bần.

Lịch sử hình thành
 

Kênh Thoại Hà đoạn qua núi Sập - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Vào đầu thế kỷ XIX, vùng Thoại Sơn rất hoang vu, mịt mù cây rừng cỏ dại. Lạch nước tuy có sẵn tự bao giờ nhưng nhỏ hẹp, bùn đọng, cỏ lấp, thuyền qua lại không nổi.

Mọi sự giao thông của tàu thuyền từ Long Xuyên và đồng bằng Sông Cửu Long muốn sang Rạch Giá, Hà Tiên hay ngược lại đều phải đi đường biển vòng xuống Cà Mau. Năm 1817, Nguyễn Văn Thoại vâng lệnh triều đình về trấn thủ Vĩnh Thanh. Nhận thấy việc giao thương ở vùng đất này gặp nhiều khó khăn, sau khi quan sát địa bàn, ông đã sớm có ý định đào kênh. Mùa xuân năm 1818, ông được vua Gia Long giáng chỉ cho phép thi hành.

Kênh được đào theo lạch nước cũ, nối với rạch Long Xuyên tại ấp Đông Phú, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, kéo dài theo hướng Tây Nam ngang qua chân núi Sập, tiếp với sông Kiên Giang, đổ nước ra cửa Rạch Giá. Sưu dân lúc ấy chủ yếu là người Kinh và một bộ phận người Khmer, tổng cộng 1.500 người. Lương thực và thực phẩm của sưu dân trong thời gian đào kênh do Nhà nước đài thọ.

Sau một tháng con kênh đã hoàn thành. Bề ngang rộng 51 m, bề dài tới Rạch Giá là 31.744 m, ghe xuồng qua lại rất tiện lợi. Sau khi hoàn tất, Nguyễn Văn Thoại cho vẽ hoạ đồ và sớ tâu lên vua. Vua Gia Long khen ngợi, ra lệnh đặt tên kênh là Thoại Hà và ban tên núi Sập là Thoại Sơn để biểu dương công trạng của quan trấn thủ. Để đánh dấu sự kiện trọng đại này, Thoại Ngọc Hầu cho soạn một bài văn khắc vào bia đá. Đầu bia chạm to hai chữ Thoại Sơn. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), ông long trọng làm lễ dựng bia tại miếu thờ Sơn thần (nay là ngôi đình thờ ông) bên triền núi Sập.

Vai trò
 

Cùng với kênh Vĩnh Tế, kênh Thoại Hà là một trong hai con kênh đào quan trọng ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long, mang đậm dấu ấn của Thoại Ngọc Hầu. Nó có giá trị về nhiều mặt: giao thông, thủy lợi, thương mại, nông nghiệp...góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn trong vùng. Tác giả Nguyễn Liên Phong từng có bài thơ ca ngợi con kênh này như sau:

Đời Gia Long thập thất niên,

Ông Bảo hộ Thoại phụng truyền chỉ sai.

Đào kinh Lạc Dục rất dài,

Ngang qua núi Sập trong ngoài giao thông.

Rồi vừa một tháng nhơn công,

Giáp vô Rạch Giá thương nông đều nhờ.

(Nam Kỳ phong tục diễn ca, xuất bản năm 1909)


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt