<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Tỉnh Hoà Bình

Điều kiện tự nhiên

Vị trí

Hoà Bình là tỉnh miền núi tiếp giáp với vùng đồng bằng sông Hồng. Phía Đông giáp tỉnh Hà Tâytỉnh Hà Nam. Phía Tây giáp tỉnh Sơn La. Phía Nam giáp tỉnh Ninh Bìnhtỉnh Thanh Hoá. Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ và thành phố Hà Nội. Địa giới tỉnh trải dài từ 20018’ - 2108’ vĩ độ Bắc và 104050’ - 105052’ kinh độ Đông. Hoà Bình án ngữ cửa ngõ miền Tây Bắc của Việt Nam, cách thành phố Hà Nội khoảng 80km về phía Tây theo quốc lộ 6. Tỉnh có vị trí quan trọng, là đầu mối giao thông nối liền miền đồng bằng với miền núi Tây Bắc.

Hoà Bình cũng là điểm xuất phát của tuyến đường Trường Sơn lịch sử, nối Hoà Bình với miền Tây Thanh Hoá. Hoà Bình ở vào vị trí trung chuyển giữa miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Ngoài ta, tỉnh cũng là vị trí trung chuyển giữa vùng núi Tây Bắc núi non trùng điệp, giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng thiếu lao động với miền đồng bằng châu thổ sông Hồng phì nhiêu nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế quan trọng, có nguồn lực lao động vào loại lớn nhất cả nước.

Hoà Bình cũng là vị trí của một vùng đất cổ với nhiều tiềm năng về cảnh quan thiên nhiên, thu hút phát triển du lịch.

Địa hình

Hoà Bình là tỉnh miền núi điển hình. Hầu như toàn bộ diện tích của tỉnh là núi và cao nguyên. Giữa núi và cao nguyên là những thung lũng sông suối, không có một đồng bằng nào đáng kể và đúng nghĩa của nó.

Địa hình Hoà Bình thấp dần từ Tây sang Đông. Hướng chủ yếu của địa hình là hướng Tây Bắc – Đông Nam. Hầu hết các núi cũng như các thung lũng sông đều chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Do ảnh hưởng của đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, ở vùng núi quá trình xâm thực chia cắt địa hình diễn ra mạnh mẽ, mạng lưới thuỷ văn dày, độ dốc lớn, mật độ chia cắt địa hình cao, quá trình xâm thực, đất lở, đất trượt phát triển mạnh.

Địa hình Hoà Bình có thể chia làm bốn khu vực: khu vực núi, khu vực trung tâm, khu vực núi đá vôi phía Tây và Tây Nam, khu vực đồi – đồng bằng – thung lũng.

Khí hậu

Hoà Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều. Khí hậu Hoà Bình do có chế độ bức xạ nội tuyến mang lại một nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở các nơi trong tỉnh thường trên 230C. Tính chất gió mùa đã tạo nên sự khác biệt rất rõ rệt giữa hai mùa. Về mùa đông, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, đặc biệt trong 3 tháng 12, 1 và tháng 2, nhiệt độ không khí giảm đi rõ rệt, nhiệt độ trung bình xuống dưới 200C. Mùa hạ thường kéo dài hơn ở các nơi khác trong vùng, không có tháng nào nhiệt độ trung bình xuống dưới 200C. Trong mùa hạ, lượng mưa và số ngày mưa cao.

Một đặc điểm khác của khí hậu Hoà Bình là hay có biến động, chủ yếu do hoạt động của gió mùa kết hợp với địa hình gây nên. Nhìn chung, lượng nhiệt và độ ẩm dồi dào đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành sản xuất nông – lâm nghiệp phát triển, khôi phục nhanh chóng thảm thực vật rừng. Tuy nhiên những biến động bất thường của thời tiết cũng gây nhiều trở ngại cho sản xuất và đời sống.

Tài nguyên thiên nhiên

- Đất

Nguồn gốc tạo nên các loại đất trên địa bàn tỉnh Hoà Bình là các loại đá trầm tích, đá mắc ma và đá biến chất. Trên mỗi loại đá phát triển một loại đất với những tính chất khác nhau. Hoà Bình có bảy nhóm đất chính: đất phù sa, đất dốc tụ, đất đen, đất bạc màu, đất feralít… Nhìn chung đất feralit là nhóm đất điển hình của Hoà Bình, chiếm phần lớn diện tích của tỉnh và gấp khoảng 18 lần đất phù sa. Đại bộ phận đất feralit có tầng đất trung bình và dày, phát triển trên địa hình dốc dưới 200, có nhiều khả năng thâm canh lâm nghiệp và trồng cây công nghiệp lâu năm, một phần để trồng cây công nghiệp ngắn ngày và cây lương thực.

- Rừng

Nằm ở vùng nhiệt đới ẩm nên giới sinh vật ở Hoà Bình khá phong phú và đa dạng. Rừng Hoà Bình có nhiều loại gỗ quý, ngoài ra còn có tre, nứa, song, mây, sa nhân, cánh kiến… nhưng trữ lượng không lớn. Năm 2003, độ che phủ rừng của tỉnh đạt 41%, tương đương 194.308 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 146.477 ha, rừng trồng là 47.831 ha. Sản lượng gỗ cây đứng là 3,3 triệu m3, bao gồm rừng tự nhiên 2,1 triệu m3, rừng trồng 1,2 triệu m3.

- Khoáng sản

Hoà Bình có nhiều loại khoáng sản, trong đó một số loại đã được khai thác như amiăng, than, nước khoáng, đá vôi… Đáng lưu ý nhất là đá, nước khoáng, đất sét có trữ lượng lớn. Đá gabrodiaba trữ lượng 2,2 triệu m3; đá granít trữ lượng 8,1 triệu m3; đặc biệt đá vôi có trữ lượng rất lớn, trên 700 triệu tấn, đang được sản xuất phục vụ xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ bản…

Ngoài ra, than đá có 6 mỏ nhỏ và 2 điểm khai thác than ở các huyện Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Lạc Sơn, Đà Bắc, Kỳ Sơn, tổng trữ lượng cấp C1 là 982.000 tấn. Đôllômit, barit, cao lanh cũng có trữ lượng lớn, trong đó có một số mỏ còn chưa được xác định rõ về trữ lượng. Sét phân bố ở vùng thấp, có rải rác trong tỉnh, trữ lượng ước tính 8 – 10 triệu m3.

Tài nguyên quý của tỉnh Hoà Bình là nước khoáng, chủ yếu phân bố ở 2 huyện Kim Bôi, Lạc Sơn. Ngoài ra, tài nguyên khoáng sản của tỉnh còn rất nhiều mỏ như vàng, đồng, chì, kẽm, thuỷ ngân, antimon, pyrit, phốtphorit…

Du lịch

Hoà Bình là một vùng đất cổ, giàu tiềm năng du lịch với nhiều cảnh quan thiên nhiên, hang động, nhiều bản làng dân tộc hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó, du lịch cảnh quan, sinh thái ở Hoà Bình cũng có rất nhiều tiềm năng để phát triển với hồ sông Đà hùng vĩ, Suối Ngọc – Vua Bà, hang Bụt, bản Lác, Tam Động Sơn, Chùa Tiên, Thác Bờ, suối nước nóng Kim Bôi

Với vị trí cửa ngõ vùng Tây Bắc, tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng, Hoà Bình còn có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như tổ chức hội thảo, hội nghị, nghỉ cuối tuần… là nơi kết nối các tour, tuyến du lịch với các tỉnh lân cận và miền Bắc.

Lịch sử hình thành và phát triển

Đất Hòa Bình xưa thuộc bộ Tân Hưng, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Từ các đời vua Hùng Vương, xứ Mường được cai quản bởi các quan Lang. Theo Sử sách, Đa Can là vị quan Lang đầu tiên tổ chức sinh hoạt hành chánh ở đây. Vua Đinh Tiên Hoàng cũng thuộc Mường tộc, khi lên ngôi đã chọn Hoa Lư làm kinh đô. Dưới đời nhà Lý, các quan Lang đã thành lập những đạo quân địa phương, theo quân triều đánh dẹp loạn quân Xiêm và dựng trại chiến lược theo lệnh vua Lý Thánh Tông và đã được triều đình phong tước. Việc nhận tước triều đình vẫn còn duy trì dưới thời vua Quang Trung. Cũng giống như các tỉnh khác vùng Tây Bắc, đất Hòa Bình thuộc tỉnh Hưng Hóa, gồm các châu Mai Châu, Đà Bắc thuộc phủ Gia Hưng. Đến cuối đời Nguyễn mới lập tỉnh Hòa Bình.

Tỉnh Hoà Bình được thành lập năm 1886. Khi đó tên là tỉnh Mường, tỉnh lỵ đặt tại chợ Bờ. Năm 1888, đối tên thành tỉnh Phương Lâm. Năm 1891, đổi tên thành tỉnh Hoà Bình, tỉnh lỵ đặt tại Hoà Bình, tỉnh gồm 6 châu: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ, Mai Châu và Đà Bắc. Năm 1976, Hoà Bình sáp nhập với tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình, tỉnh lỵ đặt ở thị xã Hà Đông. Tháng 10 năm 1991, tỉnh Hoà Bình được tái lập từ tỉnh Hà Sơn Bình, tỉnh lỵ là thị xã Hoà Bình.

Hành chính và các đơn vị trực thuộc

Tỉnh lỵ là thành phố Hoà Bình

Các đơn vị hành chánh của tỉnh bao gồm thành phố Hoà Bình và 10 huyện: huyện Cao Phong, huyện Đà Bắc, huyện Kim Bôi, huyện Kỳ Sơn, huyện Lạc Sơn, huyện Lạc Thuỷ, huyện Lương Sơn, huyện Mai Châu, huyện Tân Lạc, huyện Yên Thuỷ.

Kinh tế

Do đặc điểm địa lý tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội, có điều kiện tự nhiên, đất đai, tài nguyên khoáng sản, đặc điểm văn hoá đa dạng và phong phú đã tạo điều kiện cho tỉnh Hoà Bình phát triển mạnh một số lĩnh vực kinh tế lợi thế.

Nền kinh tế Hoà Bình đang có những biến chuyển đáng kể về mặt cơ cấu. Tỉ trọng của các khu công nghiệp – xây dựng và dịch vụ liên tục tăng nhanh. Sự phân bố các cơ sở sản xuất trong tỉnh ngày càng hợp lý. Các vùng chuyên canh đang được hình thành, tạo điều kiện tốt cho việc thực hiện các chương trình kinh tế.

Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh, cung cấp vật liệu xây dựng cho vùng và các tỉnh lân cận. Công nghiệp chế biến nông – lâm sản phát triển như đường, tinh bột, chè khô, hoa quả đóng hộp.

Bên cạnh đó, diện tích đất lâm nghiệp chiếm khoảng 55%, diện tích rừng đã phủ xanh 41% với nhiều vạt rừng kinh tế được phép trồng và khai thác phục vụ công nghiệp chế biến lâm sản.

Dựa trên địa thế tiếp giáp với các trung tâm công nghiệp lớn là Hà Nội, Hà Tây và tiềm năng lao động dồi dào, cộng thêm số lao động ở nông thôn chiếm 84%, trong khi thời gian sử dụng chỉ đạt 74%, do đó Hoà Bình có thể thuận lợi phát triển công nghiệp cơ khí điện tử, may mặc, giày da.

Nhìn chung, kinh tế Hoà Bình vẫn là nền kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp nhưng vai trò của công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng.

Văn hoá

Hoà Bình là một trong những vùng đất mà các nhà khảo cổ học chứng minh đã có người Việt cổ sinh sống cách đây hàng vạn năm. Nơi đây còn đọng lại nhiều dấu ấn của một nền văn hóa Hòa Bình rực rỡ qua việc tìm thấy 47 chiếc trống đồng cổ trong đó có trống đồng sông Đà và Miếu Môn thuộc loại đẹp và cổ.

Hòa Bình là một tỉnh đa dân tộc. Các dân tộc vừa phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình, vừa hòa đồng trong cộng đồng. Người Tày, Thái có nhiều nét giống nhau trong sinh hoạt và phong tục. Dân tộc Mường có nền văn học dân gian phong phú, hát ví Mường với nhạc trống đồng, nhạc cồng chiêng, trường ca Đẻ Đất Đẻ Nước. Dân tộc Thái có làn điệu dân ca Thái tinh tế (hát khắp Thái) giàu hình tượng. Múa xòe Thái là điệu múa mang tính chất cộng đồng cao. Người H'Mông có múa khèn, múa ô. Đặc biệt uống rượu cần là một nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu được trong các dịp lễ Tết, hội hè, tiếp khách quý của người Mường và Thái. Các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình có rất nhiều lễ hội như lễ hội cầu mát, lễ hội cầu phúc bản mường, lễ cơm mới, lễ khẩn chiêm, hội xéc bùa, hội xên bản, xên mường, hội cầu mưa…

Giao thông

Hoà Bình là đầu mối giao thông nối liền miền xuôi với miền núi Tây Bắc. Giao thông đường bộ, đường thuỷ đều thuận tiện. Tỉnh có quốc lộ 6 từ Hà Nội đến Hòa Binh, đi Sơn La; quốc lộ 12B đi Nho Quan (Ninh Bình); từ Mai Châu theo quốc lộ 15 đi Thanh Hóa.

Hoà Bình có tổng chiều dài đường bộ của tỉnh là 912,5km, trong đó có 355,5 km quốc lộ và 134,2km tỉnh lộ; ngoài ra còn các trục đường liên huyện, liên xã, từ huyện về xã.

Hoà Bình có 2 con sông lớn chảy qua. Đó là sông Đà có 90km chảy trên địa phận của tỉnh qua Đà Bắc, Mai Châu, Kỳ Sơn và sông Bôi với chiều dài 66km qua Kim Bôi, Lạc Thuỷ. Sông Đà có giá trị về giao thông, là đường vận chuyển lâm sản từ vùng núi cao về đồng bằng Bắc Bộ. Việc xây dựng nhà máy thủy điện Hoà Bình trên sông Đà cũng làm tăng thêm hiệu quả giao thông vận tải trên sông và trên vùng hồ chứa nước Hoà Bình.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt