<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Vịnh Hạ Long

Vị trí

Vịnh Hạ Long (下龍泳, Ha Long Bay) là một thắng cảnh nằm trong Vịnh Bắc Bộ, thuộc vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Vịnh Hạ Long nằm trong giới hạn tọa độ từ 106058’ - 107022’ kinh Đông và 20045’ - 20050’ vĩ Bắc. Tây Nam giáp quần đảo Cát Bà của thành phố Hải Phòng. Tây Bắc giáp vùng đất liền của huyện Yên Hưng và thành phố Hạ Long. Đông Bắc giáp Vịnh Bái Tử Long. Đông Nam là biển. Tổng diện tích 1553 km2 gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Đảo ở Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch với những hình dạng rất độc đáo cùng với các hang động đá vôi huyền ảo mang giá trị cao về cảnh quan, lịch sử văn hoá, địa chất và đa dạng sinh học.

Truyền thuyết

Vịnh Hạ Long - Ảnh chụp gần bờ: Hoàng Chí Hùng - Bùi Ngọc Tuấn

Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa, khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ, vừa lúc đàn Rồng tới hạ giới. Đàn Rồng, lập tức phun ra vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá trên biển, như bức tường thành vững chắc, bất ngờ chặn bước tiến của thuyền giặc. Đoàn thuyền của giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột đâm vào các đảo đá và đâm vào nhau vỡ tan tành. Sau khi giặc tan, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến. Vị trí Rồng Mẹ xuống là Hạ Long, Rồng Con xuống là Bái Tử Long. Đuôi đàn Rồng quẫy nước trắng xoá là Long Vĩ (bán đảo Trà Cổ ngày nay) thành bãi cát mịn và dài hơn chục km.

Lịch sử kiến tạo

Lịch sử địa chất địa mạo của Vịnh Hạ Long được các nhà khoa học nhận định trải qua ít nhất trên 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, nhiều lần tạo sơn, biển thoái; sụt chìm, biển tiến. Vịnh Hạ Long còn giữ lại được những dấu ấn của quá trình tạo sơn, địa máng vĩ đại của trái đất, có cấu tạo địa lũy, địa hào cổ. Khu vực Vịnh Hạ Long đã từng là biển sâu vào các kỉ Odovic - Silua (khoảng 500 - 410 triệu nẳm trước), là biển nông vào các kỷ Cacbon - Pecmi (khoảng 340 - 250 triệu năm trước), biển ven bờ vào cuối kỷ Paleogen đầu Neogen (khoảng 26 - 20 triệu năm trước) và trải qua một số lần biển lấn trong kỷ Nhân sinh (khoảng 2 triệu năm trước). Vào kỉ Trias (240 - 195 triệu năm trước) khi trái đất nói chung, Châu Âu nói riêng có khí hậu khô nóng thì khu vực Vịnh Hạ Long là những đầm lầy ẩm ướt với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ...

Di sản thiên nhiên thế giới

Ngày 17/12/1994, trong phiên họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan, Vịnh Hạ Long và một phần Vịnh Bái Tử Long đã chính thức được công nhận là Di sản Thiên nhiên của thế giới. Năm 2000, Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận lần thứ hai là Di Sản thế giới bởi giá trị địa chất, địa mạo. Vùng Di sản được công nhận này có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông). Vùng kế bên, là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được xếp hạng năm 1962. Hiện Vịnh Hạ Long đang nằm trong danh sách đề cử 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới do New Open World tổ chức, cùng với hai danh thắng khác của Việt Nam là núi Phan Xi PăngVườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng

Cảnh quan

Vẻ đẹp của Vịnh Hạ Long được tạo nên từ 3 yếu tố: đá, nước và bầu trời. Từ trên cao nhìn xuống, Vịnh Hạ Long bao gồm những hòn đảo nhấp nhô, muôn hình vạn trạng. Tiềm ẩn trong các hòn đảo ấy là hệ thống hang động đầy bí ẩn.

Các hòn đảo

Đảo trên vịnh - Ảnh: Hoàng Chí Hùng - Bùi Ngọc Tuấn

Một đoạn đường bờ vịnh - Ảnh: Hoàng Chí Hùng - Bùi Ngọc Tuấn

Vịnh Hạ Long - Ảnh chụp xa bờ: Hoàng Chí Hùng - Bùi Ngọc Tuấn

Các hang động

Các giá trị cơ bản

Giá trị khảo cổ học

Vịnh Hạ Long từ lâu đã được biết đến không chỉ bởi vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là nơi phát tích của một nền văn hoá cổ. Văn hoá Hạ Long là văn hoá mang những đặc trưng của người tền sử sinh sống ven biển và hải đảo ở Quảng Ninh cách nay trên dưới 4.000 năm.

Những di chỉ khảo cổ học được phát hiện trên các hòn đảo trong Vịnh và các địa điểm lân cận đã chứng minh rằng Hạ Long từng là nơi sinh sống của người Việt cổ đại.

Cuối năm 1937, nhà khảo cổ học Thụy Điển Anđécxen và hai chị em nhà khảo cổ học người Pháp là Cônani đã lênh đênh trên biển hàng tháng trời, họ trèo lên từng hang động, bãi cát, họ đã phát hiện ra rằng nơi đây, ngày xưa người nguyên thuỷ đã từng sinh sống đông đúc và họ đã tìm ra rất nhiều công cụ bằng đá như rìu, bôn, bàn mài, mảnh tước, kim khâu, vòng trang sức... Họ đã đặt tên là “Văn hoá Ngọc Vừng”. Những năm tháng sau đó, các nhà khảo cổ học Việt Nam tiếp tục tìm kiếm khai quật và họ đã phát hiện thêm rất nhiều di chỉ khảo cổ có giá trị khác như Đồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ...

Cuối tháng 11/2007, Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Ninh đã tiến hành khảo sát, khai quật hang Đông Trong (Vân Đồn) và đã phát hiện được rất nhiều thông tin giá trị, hứa hẹn làm sáng tỏ hơn về nền văn hóa nổi tiếng này. Một lần nữa, kết quả ấy như nhận xét của không ít nhà khảo cổ - đã chứng minh rằng Vịnh Hạ Long một thời đã từng là một cái nôi văn hóa của nhân loại...

Kể từ khi di tích Văn hoá Hạ Long được nhà khảo cổ người Thụy Điển là Anđécxen phát hiện năm 1937, tới nay đã có gần 40 di tích loại này được xác lập trên các đảo và ven bờ Vịnh Hạ Long, dọc từ Móng Cái đến Vân Đồn, Hạ Long, Hoành Bồ... Tiếc là hiện nay dấu vết của các di chỉ này hầu như không còn nữa do cách hoạt động của con người.

Một số di chỉ thuộc văn hoá Hạ Long

Di chỉ Ngọc Vừng

Di chỉ Hoàng Tân

Di chỉ Làng Bang

Di chỉ Miếu Cả

Di chỉ Hang Bồ Chuyến

Di chỉ Hang Tiên Ông

Di chỉ Xóm Nam

Di chỉ Hang Bồ Nâu

Giá trị địa chất - địa mạo

Giá trị địa mạo Karst

Vịnh Hạ Long có một quá trình tiến hóa Karst đầy đủ trải qua 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi rất dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể. Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều dạng địa hình Karst kiểu Phong Tùng, Phong Linh. Địa hình Karst kiểu Phong Tùng: Gồm một cụm đá vôi thường có hình chóp nằm kề nhau có đỉnh cao trên dưới 100m, cao nhất khoảng 200m. Địa hình Karst kiểu Phong Linh: Đặc trưng bởi các đỉnh tách rời nhau tạo thành các tháp có vách dốc đứng. Phần lớn các tháp có độ cao từ 50 - 100m. Tỉ lệ giữa các chiều cao và rộng khoảng 6m. Cánh đồng Karst là lòng chảo rộng phát triển trong các vùng Karst có bề mặt tương dối bằng phẳng. Cánh đồng Karst được tạo thành theo phương thức khác nhau như: Do kiến tạo liên quan các hố sụt địa hào; do sụt trần của các thung lũng sông ngầm, hang động ngầm; do tồn tại các tầng đá không hòa tan như bị xói mòn mạnh mẽ nằm giữa vùng địa hình Karst cao hơn vây quanh mà thành… Cánh đồng Karst Hạ Long thường xuyên ngập nước.

Địa hình Karst ngầm

Là hệ thống các hang động đa dạng trên Vịnh, được chia làm 3 nhóm chính: Nhóm 1, là di tích các hang ngầm cổ, tiêu biểu là hang Sửng Sốt, động Tam Cung, động Lâu Đài, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, Thiên Long,v.v... Nhóm 2, là các hang nền Karst tiêu biểu là Trinh Nữ, Bồ Nâu, Tiên Ông, Hang Trống v.v.. Nhóm 3, là hệ thống các hàm ếch biển, tiêu biểu như 3 hang thông nhau ở cụm hồ Ba Hầm, hang Luồn, Ba Hang…

Karst Vịnh Hạ Long có ý nghĩa toàn cầu và có tính chất nền tảng cho khoa học địa mạo. Môi trường địa chất còn là nền tảng phát sinh các giá trị khác của Vịnh Hạ Long như đa dạng sinh học, văn hóa khảo cổ và các giá trị nhân văn khác.

Giá trị sinh học

Vịnh Hạ Long là nơi tập trung đa dạng sinh học với hai loại hình sinh thái tiêu biểu là: Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và Hệ sinh thái biển và ven bờ.

Hệ sinh thái rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Thảm thực vật trên đá núi - Ảnh: Hoàng Chí Hùng - Bùi Ngọc Tuấn

Các hòn đảo trên vịnh Hạ Long là nơi tập trung sinh sống của hàng ngàn loài thực vật thuộc các quần xã khác nhau. Một số quần xã tiêu biểu có thể kể đến như: các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá.

Theo thống kê, hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở Hạ Long, Bái Tử Long có: 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn; đối với động vật người ta cũng thống kê được 4 loài lưỡng cư, 10 loài bò sát, 40 loài chim và 14 loài thú.

Đặc biệt có 7 loài thực vật đặc hữu duy nhất chỉ có ở Hạ Long là: Thiên tuế Hạ Long, Khổ cử đại tím, Cọ Hạ Long, Khổ cử đại nhung, Móng tai Hạ Long, Ngũ gia bì Hạ Long, Hài vệ nữ hoa vàng.

Hệ sinh thái biển và ven bờ

Bao gồm hệ sinh thái đất ướt và hệ sinh thái biển

Hệ sinh thái đất ướt

  • Sinh thái vùng triều và vùng ngập mặn: Khu vực Hạ Long và vùng phụ cận có 20 loài thực vật ngập mặn. Rừng ngập mặn Hạ Long còn đóng vai trò là nơi sống cho nhiều loài sinh vật khác do đó nó mang năng suất sinh thái rất cao. Đây là nơi sống cho 169 loài giun nhiều tơ; 91 loài rong biển; 200 loài chim và 10 loài bò sát và 6 loài khác).

  • Dạng sinh thái đáy cứng, rạn san hô: Hệ sinh thái san hô là một trong những đặc thù của Vịnh Hạ Long, là hệ sinh thái có năng suất sinh thái cao, giúp làm sạch môi trường nước, tập trung ở Hang Trai, Cống Đỏ, Vạn Giò... Các rạn san hô ở đây thường có kiểu riềm bờ, với cấu trúc hình thái giống rạn kinh điển như lagun riềm bờ (fringing lagoon), mặt bằng rạn (reef flat) trong và ngoài, mào rạn (crest), sườn dốc (slope) và nền chân rạn (platform reef). Hiện nay, đã thống kê được Vịnh Hạ Long có 232 loài san hô. Đây là nhóm động vật thuộc ngành ruột khoang, trong đó chủ yếu thuộc lớp san hô và lớp thủy tức. Tạo rạn san hô trong Vịnh Hạ Long chủ yếu là các loài của bộ san hô cứng (mặc dù không phải loài san hô cứng nào cũng tham gia tạo rạn). Rạn san hô Hạ Long cũng là nơi sinh cư của 81 loài chân bụng; 130 loài hai mảnh vỏ; 55 loài giun nhiều tơ, 57 loài cua.

  • Dạng sinh thái hang động và tùng, áng: Hệ sinh thái hang động Karst và tùng, áng của Vịnh Hạ Long là hệ đặc biệt có lẽ ít nơi có được. áng là các hồ chứa nước, nằm giữa các đảo; còn tùng là vùng nước có một cửa tương đối kín, ít sóng. Đây là những điều kiện tự nhiên tạo nên các hệ sinh thái đặc biệt, làm tăng giá trị của vịnh. Tiêu biểu như ở Tùng Ngón là nơi cư trú của 65 loài san hô, 40 loài động vật đáy, 18 loài rong biển. Đặc biệt ở đây có đến 4 loài sinh vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ. Một số hang động đã được đầu tư các điều kiện về ánh sáng và đường đi để phục vụ cho việc bảo tồn và tham quan Vịnh Hạ Long nhưng vẫn còn một số động giữ được ở dạng tự nhiên, nguyên sơ chưa tổ chức đón khách…

  • Dạng sinh thái đáy mềm: Đây là dạng sinh thái của quần xã cỏ biển. Cỏ biển ở Hạ Long có số loài không lớn: 5 loài, nhưng lại là nơi cư trú cho nhiều loài, có tác dụng chắn sóng và tham gia hấp thụ các chất hữu cơ, làm sạch nước biển. Hiện nay, đã thống kê được số lượng các loài sống cùng cỏ biển như sau: 140 loài rong biển; 3 loài giun hiều tơ; 29 loài nhuyễn thể; 9 loài giáp xác.

  • Dạng sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn: Thường phân bố ở đới triều thấp. Sinh vật sống trên vùng triều đặc trưng là động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun biển có giá trị dinh dưỡng cao như sái sùng, hải sâm, sò, ngao v.v... Hầu hết những nguồn hải sản này đang bị khai thác quá mức.

Hệ sinh thái biển

Hệ sinh thái biển bao gồm: thực vật phù du, động vật phù du, động vật đáy biển và động vật tự du

  • Thực vật phù du (TVPD): Là động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước, có thể tự dưỡng qua quá trình quang hợp góp phần phân giải chất hữu cơ, hạn chế ô nhiễm nước. Theo kết quả điều tra TVPD ở Vịnh Hạ Long có 185 loài.

  • Động vật phù du (ĐVPD): Là động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước, đóng vai trò mắt xích thứ hai sau TVPD. Sự phân bố của ĐVPD phụ thuộc vào tầng nước và thời gian. Vùng Hạ Long - Cát Bà có 140 loài ĐVPD sinh sống.

  • Động vật đáy: Nhóm sinh vật sinh sống ở đáy biển, cho giá trị dinh dưỡng cao. Theo thống kê sơ bộ, vùng Hạ Long có đến 500 loài động vật đáy, trong đó có 300 loài động vật nhuyễn thể; 200 loài giun nhiều tơ; 13 loài da gai.

  • Động vật tự du: Là động vật hoàn toàn có khả năng tự chủ bơi lội trong nước; di cư để tìm mồi, sinh sản hay trú đông. Đến nay người ta đã xác định được 326 loài động vật tự du, phân bố trong vịnh.

Tiềm năng

Tiềm năng du lịch

Thuyền du lịch trên vịnh - Ảnh: Hoàng Chí Hùng - Bùi Ngọc Tuấn

Vịnh Hạ Long là một trong những điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Đến Vịnh Hạ Long, du khách có thể tham gia các loại hình du lịch: tham quan ngắm cảnh, tắm biển, nghiên cứu và nhiều loại hình khác. Hiện nay, khách đến Vịnh Hạ Long chủ yếu đi tham quan ngắm cảnh, tắm biển và bơi thuyền Kay-ăc. Thành phố Hạ Long hiện có khoảng 300 khách sạn từ 1 đến 5 sao với 4500 phòng nghỉ và nhều khách sạn mini cơ bản đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch.

Tiềm năng cảng biển và giao thông thủy

Vịnh Hạ Long là vùng vịnh kín nên ít sóng và gió, hệ thống luồng lạch tự nhiên dày đặc và cửa sông ít bị bồi lắng. Điều kiện thuận lợi này cho phép xây dựng hệ thống giao thông cảng biển lớn mạnh. Có cảng Cái Lân (thành phố Hạ Long) và cảng Cửa Ông (thị xã Cẩm Phả). Ngoài ra, Quảng Ninh còn có một hệ thống cảng phụ trợ như: Mũi Chùa, Vạn Gia, Nam Cầu Trắng... Đặc biệt là cảng Cái Lân, gần với cầu Bãi Cháy là vùng nước sâu, kín gió, nằm liền kề quốc lộ 18A, thuận lợi việc bốc rót, chuyên chở hàng hóa.

Tiềm năng hải sản

Vùng biển Hạ Long chứa đựng nhiều hệ sinh thái phong phú có giá trị đa dạng sinh học cao, trữ lượng hải sản của vùng rất lớn. Điều kiện tự nhiên thích hợp cho việc nuôi trồng và đánh bắt hải sản như: khí hậu, diện tích bãi triều lớn, nước trong, ngư trường ven bờ và ngoài khơi có trữ lượng hải sản cao và đa dạng với những loài như: cá song, cá giò, sò, tôm các loại...

Vấn đề bảo tồn

Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao khai thác tốt tiềm năng của vịnh, nhưng vẫn phải đảm bảo môi trường sinh thái tự nhiên, tránh làm ô nhiễm vùng vịnh. Từ nhiều năm qua, trên vịnh Hạ Long đã có một số lượng cư dân sinh sống, họ dựng nhà bè để cư trú, kinh doanh và làm dịch vụ vận tải. Những hoạt động này đã đang và sẽ làm ô nhiễm nguồn nước trên mặt vịnh. Tốc độ phát triển kinh tế hiện nay của thành phố Hạ Long với nhiều nhà máy sản xuất tập trung ở gần khu vực vịnh cũng gây nên sức ép lớn đến vấn đề bảo tồn.

Hiện Ban Quản lý vịnh đã thành lập 4 trung tâm bảo tồn trên biển, bao gồm: Trung tâm Bảo tồn công viên Vạn Cảnh; Trung tâm Bảo tồn công viên, hang động; Trung tâm Bảo tồn văn hoá biển và Trung tâm Bảo tồn, phát triển giải trí biển. Trong phạm vi khu vực quản lý, mỗi trung tâm được giao quản lý toàn bộ các vấn đề như: Môi trường, thuyết minh - hướng dẫn, hang động...


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt