<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Khu phố cổ Hà Nội

Khu phố cổ Hà Nội là tên gọi chung để chỉ một khu vực đô thị đã có từ lâu đời của Hà Nội, nằm ở ngoài kinh thành Thăng Long. Khu đô thị này tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành lên những phố nghề đặc trưng, mang những nét truyền thống riêng biệt của cư dân thành thị, kinh đô. Ngày nay, đây là một khu vực buôn bán sầm uất và vẫn còn lưu giữ được nhiều nét kiến trúc, văn hoá thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu và từng được ví như thành Venice cổ kính của Ý.

Vị trí, giới hạn
 

Theo quyết định số 70 BXD/KT-QH ngày 30/3/1995 của Bộ Xây dựng, khu Phố cổ Hà nội có phạm vi được xác định:

- Phía Bắc là dãy phố Hàng Đậu

- Phía Tây là phố Phùng Hưng

- Phía Nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thùng

- Phía Đông là các phố Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật

Toàn bộ khu vực phố cổ Hà Nội đều thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm với tất cả 76 tuyến phố, thuộc 10 phường, tổng diện tích quy hoạch khu phố khoảng 100ha., dân số khoảng 100 ngàn người.

Quá trình hình thành và phát triển
 

Khu phố cổ Hà Nội là một nhân chứng quan trọng ghi lại dấu ấn của quá trình phát triển Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Vùng đất kinh kì tồn tại hàng nghìn năm nổi tiếng với bến chợ và 36 phố phường buôn bán tấp nập. Đây là một khu vực thu hút nhiều dân cư các nơi về tụ tập, đua trí, đua tài, tạo nên nét hài hoa độc đáo tô điểm cho nét đặc trưng của người Hà Nội. Theo các thư tịch cổ còn lưu lại đến ngày nay thì khu vực sầm uất nhất của vùng đất kinh kì này là huyện Thọ Xương (nay là quận Hoàn Kiếm và quận Hai Bà Trưng). Nơi đây có các hàng quán buôn bán. Mỗi khu phố bán một mặt hàng riêng biệt, tạo nên đặc trưng riêng và người dân đã lấy tên mặt hàng buôn bán đó đặt tên cho khu phố. Không chỉ lưu lại trong sử sách, tài liệu thư tịch cổ mà khu phố cổ còn hiện diện rõ nét trong các tác phẩm văn học dân gian và tiêu biểu là dân ca, ca dao như bài ca dao:

Rủ nhau chơi khắp Long Thành

Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.

Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai

Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay

Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giầy

Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn

Phố mới Phúc Kiến, Hàng Ngang

Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng

Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông

Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè

Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre

Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà

Qua đi đến phố Hàng Da

Trải xem phường phố thật là cũng xinh

Phồn hoa thứ nhất Long Thành

Phố giăng mắc cửi đường quanh bàn cờ.

Các phố được kể tên trong bài ca dao là những khu vực tập trung buôn bán sầm uất nhất, đều có cơ sở hạ tầng, đường xá được đầu tư, chăm lo cẩn thận. Các phố thường được ngăn cách với nhau bởi những chiếc cổng lớn. Các nhà trong phố được xây dựng san sát nhau theo kiểu chồng diêm. Một số nhà còn tồn tại đến ngày nay như một minh chứng thực tiễn cho sự pphat1 triển của khu phố nói riêng và vùng đất Thăng Long xưa nói chung.

Thời Lý - Trần, phố cổ Hà Nội đã bắt đầu hình thành. Đến thời nhà Lê vào đầu thế kỉ XVI thì hình thành khu vực gọi là 36 phố phường, thu hút nhiều người dân từ khắp nơi đổ về buôn bán, làm ăn. KHu vực này lại được bao bọc bời nhiều sông hồ. Sông Tô Lịch bao bọc ở phía Bắc, sông Hồng ở phía Đông, hồ Hoàn Kiếm ở phía Nam. KHu vực chợ búa và nhà ở đầu tiên được đặt tại nơi công Tô Lịch và sông Hồng gặp nhau, tạo nên quang cảnh buôn bán nhộn nhịp trên bến dưới thuyền. Dần dần, khu vực này phát triển, trở thành một không gian thể hiện dấu ấn về một đô thị khá toàn diện về kinh tế, xã hội, tập quán, truyền thống.

Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX thành phố đã thiết lập một mạng lưới chợ. Phía đông là khu dân cư, kinh thành, nơi tập trung các phường nghề. Sau khi hình thành các khu dân cư và chợ, các chùa , đình, đền cũng được xây dựng nhiều.

Vào thế kỉ thứ XVII, khu phố này đã thu hút nhiều thương nhân nước ngoài đến sinh sống và làm ăn buôn bán như người Hà Lan, người Anh, và đặc biệt đông nhất là các thương nhân Trung Quốc.

Từ cuối thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX, cơ cấu đô thị ở đây đã trở nên dày đặc hơn, tập trung hơn. Các ao, hồ, đầm đã dần được lấp kín và thay thế vào đó là những khu dân cư buôn bán sầm uất, nhộn nhịp. Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội thì khu phố cổ có nhiều sự thay đổi. Đường phố ựược nắn lại, đổi tên, đồng thời được lắp đặt thêm hệ thống thoát nước, xây dựng thêm hè phố, đường xá được trải nhựa và có thêm hệ thống chiếu sáng. Vào thời kì này, bên cạnh các kiến trúc nhà cổ, khu phố cũng xuất hiện nhiều ngô nhà được làm theo kiểu cách, kiến trúc châu Âu.

Từ sau năm 1954, do chính sách kinh tế thời bao cấp nên khu vực phố cổ không còn hoạt động buôn bán mà chỉ đơn thuần để ở, phố xá trở nên yê tĩnh hơn, dân cư tăng dần. Một số căn nhà, đình, chùa trở thành nơi ở, làm việc của các cơ quan nên việc sản xuất các mặt hàng thủ công truyền thống dần bị mai một, văn hoá lễ hội tâm linh bị lắng xuống. Từ sau năm 1986, đất nước dần hồi phục, kinh tế phát triển trở lại và khu phố cổ trờ về vị trí buôn bán vốn có của nó. Các cửa hàng thủ công truyền thống dần hồi phục và ngày càng phát triển nhộn nhịp cho đến ngày nay.

Có thể nói, khu phố cổ là một quần thể kiến trúc độc đáo, mạng nặng bản sắc dân tộc. Khác với khu phố cổ Hội An (Quảng Nam) thiên về thương mại, đây là khu phố mang sắc thái của một khu dân cư sản xuất, chủ yếu là nghề thủ công truyền thống. Ngoài ra, nơi đây cũng là địa điểm diễn ra nhiều lễ hội vui chơi, giải trí cũng như các đình, đền trở thành nơi thờ vọng, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của những người xa xứ đến vùng đất kinh kì lập nghiệp. Đây cũng là một điểm du lịch hấp dẫn nhiều khu khách khu đến thăm vùng đất thủ đô.

Các di tích
 

Di tích nhà số 87 Mã Mây

Ngôi nhà cổ 87 Mã Mây nằm ở phía Bắc hồ Hoàn Kiếm. Ngôi nhà được xây dựng khoảng cuối thế kỷ XIX. Với kiến trúc kiểu nhà truyền thống: giữa các lớp nhà có sân trong để lấy gió và ánh sáng, tầng một (phần tiếp giáp mặt phố) dùng để bán hàng, phía trong để ở và sản xuất, phần trong cùng là bếp và khu vệ sinh. Tầng hai, phòng ngoài để thờ và tiếp khách, phòng trong là nơi ở. Ngôi nhà còn được giữ lại các chi tiết kiến trúc cổ Hà Nội.

Ngôi nhà được cải tạo, bảo tồn năm 1999 và hoàn thành tháng 10 năm 1999. Ngôi nhà là nơi giới thiệu kiến trúc cổ Hà Nội và gợi ý nhân dân phố cổ cách bảo tồn, tôn tạo nhà cổ.

Di tích nhà số 38 Hàng Đào

Ngôi nhà 38 Hàng Đào, nguyên là đình Đồng Lạc (đình chợ bán yếm lụa). Đình được xây dựng từ thời Lê (thế kỷ XVII) với quy mô rộng rãi. Trong chiến tranh, đình bị phá huỷ. Khoảng năm 1856 (niên hiệu Tự Đức, Bính Thìn), ngôi đình đã được trùng tu.

Năm 1941, đình được xây dựng lại với quy mô hai tầng. Tầng một sử dụng để ở, điện thờ được đưa lên tầng hai. Trước và sau nhà có sân trồng cây. Ngôi nhà còn giữ lại được tấm bia đá cách đây hơn 150 năm (một di vật hiếm có ở các đình Hà Nội) và một số họa tiết trang trí của đình.

Ngôi nhà được cải tạo, bảo tồn từ đầu năm 2000 và khánh thành vào tháng 4 năm 2000. Nơi này giới thiệu kỹ thuật xây dựng truyền thống, kết hợp kỹ thuật tôn tạo hiện đại cũng như những thông tin về bảo tồn, tôn tạo phố cổ.

Công tác bảo tồn và phát triển
 

Bảo tồn và tôn tạo khu phố cổ là một nhiệm vụ ý nghĩa góp phần vào việc gìn giữ di sản của 1000 năm Thăng Long. Công việc này đòi hỏi phải có sự phối hợp của các cấp chính quyền địa phương và mỗi người dân sống trong khu vực.

Theo thông tin từ UBND thành phố Hà Nội thì thành phố đang xây dựng kế hoạch tổng thể quản lí và bảo tồn, tôn tạo phố cổ Hà Nội, đồng thời triển khai 9 chương trình cụ thể về bảo tồn tôn tạo các giá trị di sản kiến trúc và nâng cao điều kiện sống cho người dân; quản lý trật tự xây dựng; bảo tồn và phát huy các giá trị di sản lịch sử văn hóa, phố nghề; tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân; kêu gọi đầu tư; thực hiện các dự án thí điểm; phát triển du lịch văn hóa....

Năm 2004, Khu phố cổ Hà Nội đã được chính thức công nhận là Di tích Lịch sử cấp quốc gia.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt