<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Huyện Chi Lăng

Sơ lược
 

Huyện Chi Lăng nằm ở phía Nam của tỉnh Lạng sơn, cách thành phố tỉnh lỵ khoảng 30 km.

Lịch sử hình thành
 

Năm 1964, 8 xã thuộc huyện Bằng Mạc đã sáp nhập với huyện Ôn Châu thành huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

Ngày 27/12/1975, tỉnh Lạng Sơn sáp nhập với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng, Chi Lăng trở thành huyện của tỉnh Cao Lạng.

Ngày 29/12/1978, tỉnh Lạng Sơn tái lập, Chi Lăng thành huyện của tỉnh Lạng Sơn.

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí địa lý

Phía Bắc Chi Lăng giáp với huyện Văn QuanCao Lộc; phía Tây giáp huyện Hữu Lũng; phía Đông giáp với huyện Lộc Bình; phía Nam giáp với tỉnh Bắc Giang.

Địa hình

Địa hình Chi Lăng bị chia cắt bởi nhiều đồi núi, hang động khe suối. Phía Tây là vùng núi đá vôi thuộc vùng cung Bắc Sơn có nhiều sườn núi dốc đứng, độ cao trên 400m, xen giữa các núi đá là các cánh đồng bằng phẳng. Phía Nam địa hình thấp đần từ Tây Bắc xuống Đông Bắc, độ cao từ 200-350 m.

Trên địa bàn Chi Lăng có sông Thương chảy qua theo hướng Đông Bắc- Tây Nam.

Khí hậu

Chi Lăng nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa tiểu vùng khí hậu phía Tây và tiểu vùng phía Đông, lại chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng núi phía Bắc. Nhiệt độ trung bình 22,7oC, lượng mưa trung bình 1.379 mm/năm.

Tài nguyên

Tài nguyên thiên nhiên ở Chi Lăng chủ yếu là đá vôi với hàm lượng CaO cao (55%), tập trung ở các xã: Bằng Hữu, Bằng Mạc, Gia Lộc, Chi Lăng, Sao Mai.. ngoài ra còn có cuội, sỏi, cát và mỏ sắt (trữ lượng khoảng 2 triệu tấn).

Điều kiện kinh tế, xã hội
 

Tiềm năng kinh tế

Chi Lăng chủ yếu là đất feralít có nguồn gốc đá mẹ là trầm tích, sa thạch xen lẫn và nhóm đất dốc tụ phù sa sông suối.

Đất đai ở Chi Lăng thích hợp trồng các loại cây ăn quả (na, nhãn, vải thiều, hồng); trồng rừng lấy gỗ (thông, bạch đàn, keo); trồng nấm, trồng bưởi Diễn và trồng củ mài. Ngoài trồng trọt, Chi Lăng còn có tiềm năng phát triển các mô hình chăn nuôi lợn nái, lợn thịt…

Trên địa bàn Chi Lăng có quốc lộ 1A, quốc lộ 279 và tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Đồng Đăng đi qua.

Văn hoá, xã hội

Chi Lăng có 21 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn Đồng Mỏ, Chi Lăng và 19 xã: Vân An, Chiến Thắng, Vân Thuỷ, Bắc Thuỷ, Liên Sơn, Nhân Lý, Mai Sao, Lâm Sơn, Hữu Kiên, Quan Sơn, Gia Lộc, Thượng Cường, Quang Lang, Hoà Bình, Chi Lăng, Y Tịch, Vạn Linh, Bằng Mạc và Bằng Hữu.

Chi Lăng là nơi sinh sống của các dân tộc: Tày, Nùng, Kinh, Dao…

Người Tày ở Chi Lăng sống bằng nghề trồng lúa, ngô, khoai và rau…họ thường sống tập trung thành từng bản ở khu vực chân núi hay ven suối. Người Tày thường làm nhà sàn hoặc nhà đất.

Y phục của người Tày thường làm từ vải bông nhuộm chàm, phụ nữ mặc áo dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách bên phải, cài 5 khuy.

Văn hoá của người Tày rất phong phú với các thể loại như: thơ, ca, tục ngữ, ca dao, múa nhạc, múa rối…những điệu dân ca phổ biến là hát lượn, hát đám cưới, ru con.

Tiềm năng du lịch

Chi Lăng có những địa danh nổi tiếng như ải Chi Lăng, Quỷ Môn Quan, núi Mã Yên, ngõ Luỹ Thề, hang Dơi, hang Gió, khu di tích đập Cấm Sơn, chợ tình bản Thí…

Mục tiêu

Chi Lăng phấn đấu tới năm 2010, cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp đạt từ 54 - 46,2%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt từ 14,5 - 19,1%; thương mại - dịch vụ đạt từ 31,5 - 34,7%. Bình quân lương thực từ 400 - 450 kg/người/năm. Thu nhập bình quân đạt từ 6,5 - 7 triệu đồng/người/năm.

Năm 2010, Chi Lăng sẽ nâng độ che phủ của rừng lên từ 42 - 50%, 100% các phòng học được kiên cố hoá, 21/21 xã, thị trấn có bác sĩ và hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 3%.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt