<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Hồ Chí Minh

Tiểu sử
 

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh (胡志明), Lãnh tụ cách mạng Việt Nam, người sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lúc nhỏ có tên là Nguyễn Sinh Cung (阮生恭), tự Nguyễn Tất Thành (阮必成). Trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc (阮愛國) và nhiều tên gọi và bút danh khác (Lý Thụy, Anh Ba, Văn Ba, Vương Sơn Nhi, Chàng Vương, Tống Văn Sơ, Hồ Quang, Thầu Chín, Ông Ké,....). Con chí sĩ Nguyễn Sinh Huy (Nguyễn Sinh Sắc) và bà Hoàng Thị Loan, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. (Có sách chép năm sinh là năm 1892 hay 1894 như Trần Trọng Kim, Tiến sĩ Smith - Giáo sư Đại học Luân Đôn - Anh tự ghi).

Ông xuất thân trong một gia đình Nho học yêu nước, thuở nhỏ thông minh, hiếu học. Đến tuổi thiếu niên theo thân phụ vào Huế học tại Trường tiểu học Đông Ba, Trường Trung học Quốc học.

Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế lần thứ hai và học ở trường tiểu học Pháp - Việt Đông Ba. Tháng 9 năm 1907, ông vào học tại trường Quốc học Huế.

Đầu năm 1910, Nguyễn Tất Thành vào đến Phan Thiết. Ông dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại trường Dục Thanh của hội Liên Thành. Tháng 2 năm 1911, nghỉ dạy vào Sài Gòn. Tại đây, ông theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua, tháng 12-1920

Ngày 5-6-1911, ông ra nước ngoài, làm nhiều nghề, tham gia cuộc vận động cách mạng của nhân dân nhiều nước, đồng thời không ngừng đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân các nước thuộc địa.

Năm 1917, ông tham gia Đảng Xã hội Pháp, lập Hội những người Việt Nam yêu nước để tuyên truyền và giác ngộ Việt kiều ở Pháp. Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi đến Hội nghị Versailles bảng yêu sách 8 điểm đòi tự do, dân chủ và quyền bình đẳng cho nhân dân Việt Nam và các nước thuộc địa khác....

Tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Năm 1921, ông tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp; xuất bản tờ báo Người cùng khổ ở Pháp (1922); năm 1923, được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân.

Năm 1924, ông tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là Uỷ viên thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam. Cuối năm 1924, ông về Quảng Châu (Trung Quốc) với tên là Lý Thụy công tác trong phái đoàn Borodine (cố vấn của Liên Xô bên cạnh chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc). Năm 1925, ông tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức châu Á, xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường Kách mệnh (1927). Năm 1925, ông thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc), ra tuần báo Thanh Niên, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam và tổ chức "Cộng sản đoàn" làm nòng cốt cho Hội đó, đào tạo cán bộ Cộng sản để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc năm 1930

Năm 1927 sau vụ khởi nghĩa Quảng Châu ông đi Liên Xô, Bỉ, Đức, Thụy Sĩ... Tháng 7-1928 đến 11-1929, ông hoạt động trong phong trào yêu nước ở Xiêm (Thái Lan) và chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập tại Cửu Long (gần Hương Cảng). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng do chính ông soạn thảo. Ông ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi Đảng Lao động Việt Nam và nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).

Tháng 6-1932 ông bị mật thám Anh bắt tại Hương Cảng, đến đầu năm 1933 mới được trả tự do, sau đó ông trở lại Liên Xô học tại Trường Đại học Lénine.

Năm 1938, từ Liên Xô ông về hoạt động ở Quảng Tây (Trung Quốc) trong đơn vị Bát lộ quân Trung Quốc. Đầu năm 1939 ông liên lạc được với Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương qua xứ ủy Bắc Kỳ.

Ngày 28-1-1941 ông về nước, lập căn cứ ở Pác Bó nay là tỉnh Cao Bằng đào tạo cán bộ và trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng các hội Cứu quốc ở các địa phương để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 5-1941, ông triệu tập Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Hồ Chủ tịch làm việc trong Phủ Chủ tịch năm 1946

Tháng 8 năm 1942 ông lấy tên là Hồ Chí Minh rồi trở sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Vừa đến biên giới thì bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam một năm tại các nhà lao của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Trong thời gian ngồi tù ông viết tập thơ Ngục trung nhật kí - 獄中日記 - (Nhật kí trong tù). Tháng 9 năm 1943, sau khi được trả tự do, ông tiếp xúc với các tổ chức chống Pháp - Nhật của người Việt Nam ở Liễu Châu, bắt liên lạc được với Đảng rồi trở về nước lãnh đạo cách mạng.

Tháng 9-1944, ông về Cao Bằng. Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam) và Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, ông chủ tọa Hội nghị Quốc dân toàn quốc (Quốc dân đại hội). Tại Đại hội ông được bầu làm Chủ tịch. Ngày 25-8-1945 ông về Hà Nội chủ tọa phiên họp của Tổng bộ Việt Minh thành lập chính phủ lâm thời.

Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ đọc bản Tuyên ngôn độc lập do ông viết, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấm dứt chính quyền phong kiến, thực dân ngự trị lâu dài trên đất nước Việt Nam. Đến ngày 19-12-1946 do sự khiêu khích của thực dân Pháp, chủ tịch ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp.

Tháng 2-1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Tại Đại hội ông được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Cuộc kháng chiến kéo dài đến năm 1954 - với chiến thắng ở Điện Biên Phủ - quân Pháp bị bắt buộc kí hiệp định Genève rút quân ra khỏi Việt Nam. Đầu năm 1955 Chủ tịch từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội.

Bác Hồ làm việc trong vườn

Các năm 1957-1960 Chủ tịch đi thăm các nước Xã hội Chủ nghĩa nhằm thắt chặt tình hữu nghị và tổng kết vấn đề chiến lược của cách mạng thế giới.

Sau khi Mỹ can thiệp vào miền Nam và chiến tranh xảy ra ác liệt ở cả hai miền, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt (27-3-1964) nhằm tăng cường khối đoàn kết toàn dân thực hiện thắng lợi cho cách mạng.

Trong những năm cuối đời, sức khỏe sút giảm, Chủ tịch vẫn sáng suốt lãnh đạo nhân dân xây dựng và kháng chiến.

Ngày 2-9-1969 (lúc 9 giờ 47 phút) Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần tại Hà Nội hưởng thọ 79 tuổi để lại sự thương tiếc khôn nguôi trong lòng nhân dân Việt Nam.

Trước lúc "đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin", Chủ tịch có lời “Di chúc” về việc riêng “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng” (...) Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.

Đồng bào mỗi miền nên chọn một quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá, tượng đồng, mà nên xây một ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để cho những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi”.

Trong lễ Quốc tang Chủ tịch, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc bài “Điếu văn” trong đó có đoạn:

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê năm 1960

Một tác giả khuyết danh (nay được cho là Nguyễn Văn Bồng) - trước đây ở Sài Gòn - trân trọng điếu Chủ tịch:

“Thế giới đạo tiền trình, Âu Á kim vô hậu bối;

Vĩ nhân tân xã hội, Mã Liệt chi hậu hữu tiên sinh”.

Nghĩa:

Vạch ra con đường lên thế giới mới, xưa nay Âu Á chưa từng có như người;

Vĩ nhân của xã hội mới, sau Các Mác, Lê Nin chỉ có Người mà thôi.

Tuy là một người lãnh đạo cấp cao của một nước, nhưng Hồ Chí Minh rất giản dị, yêu thương nhi đồng. Người từng nói: "Trẻ con như búp trên cành, biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan".

Quảng trường Ba Đình - Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là danh nhân không chỉ riêng của Việt Nam mà là của cả thế giới.

Để tưởng nhớ và tôn vinh một vị lãnh tụ giải phóng đất nước, Ban chỉ huy chiến dịch giải phóng miền Nam đã đặt tên cho chiến dịch này là Chiến dịch Hồ Chí Minh và trong kỳ họp Quốc hội đầu tiên sau ngày thống nhất đất nước (1976) đã quyết định đổi tên thành phố Sài Gòn thành thành phố Hồ Chí Minh. Ngày nay chúng ta lại có thêm đường Hồ Chí Minh dọc theo dãy Trường Sơn (được làm mới từ đường mòn Hồ Chí Minh) và đường mòn Hồ Chí Minh trên biển.

Các giải thưởng, huân chương cao quý lấy tên Người đặt như: Huân chương Hồ Chí Minh, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Cháu ngoan Bác Hồ.

Tác phẩm
 

Ngoài một nhà cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nhà văn, một nhà lý luận cách mạng, để lại cho đời nhiều tác phẩm nổi tiếng:

  • Đường Kách mệnh

  • Bản án chế độ thực dân Pháp

  • Con rồng tre

  • Nhật kí trong tù

  • Tuyên ngôn độc lập

  • Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

  • Sửa đổi lối làm việc

cùng nhiều tác phẩm, bài báo, bài viết khác....

Những câu nói nổi tiếng
 

Bác Hồ đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-9-1945
  • Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. (Diễn ca Lịch sử nước ta – 1942).

  • Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi..." (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (1945 - 1946). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr161.)

  • Non sông Việt Nam có vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công học tập của các cháu! (Thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường - 1945).

  • Nhân dân miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. (1946).

  • Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946).

  • Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta hãy cùng nhau giữ lấy nước! (Bác nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 tại khu di tích lịch sử Đền Hùng vào đêm 18-09-1954).

    Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ tại Đền Hùng năm 1954
  • Người cộng sản không được sợ bất cứ cái gì và cũng không sợ bất cứ cái gì! (1956).

  • Không có gì quý hơn độc lập, tự do! (Bác kêu gọi nhân dân quyết tâm đánh Mỹ phát trên đài Tiếng nói Việt Nam vào ngày 17-7-1966).

  • Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

  • 1. Yêu tổ quốc, yêu đồng bào; 2. Học tập tốt, lao động tốt; 3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt; 4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt; 5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm (5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng).

Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân xâm lược và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh được nêu gương cho nhiều thế hệ noi theo như:

  • Đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại.

  • Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại

  • Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.

Bác Hồ trong văn hoá, nghệ thuật
 

Bác Hồ với thiếu nhi

Bác Hồ là nguồn cảm hứng sáng tác của các văn nghệ sĩ:

  • Bác Hồ, một tình yêu bao la - nhạc sĩ Thuận Yến

  • Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người - nhạc sĩ Trần Kiết Tường

  • Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng - nhạc sĩ Phong Nhã

  • Người đi tìm hình của nước - nhà thơ Chế Lan Viên

  • Việt Bắc - nhà thơ Tố Hữu

  • Sáng Tháng Năm - nhà thơ Tố Hữu

  • Bác ơi! - nhà thơ Tố Hữu

  • Viếng Lăng Bác - nhà thơ Viễn Phương

  • Hồ Chí Minh - tên Người là cả một niềm thơ - FÊLIX PITA RÔĐ'RIGHET - Cuba (Hoàng Hiệp dịch)

và nhiều sáng tác của các văn nghệ sĩ khác....


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt