<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Thiên Mụ

Vị trí
 

Chùa Thiên Mụ tọa lạc trên đồi Hà Khê, bên tả ngạn sông Hương, thuộc xã Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Đến với Thiên Mụ, du khách không khỏi cảm kích trước vẻ đẹp thiên nhiên, trước công trình đời xưa để lại với ngọn tháp hùng vĩ đứng soi mình trên dòng sông Hương duyên dáng. Nơi đây, từ bốn thế kỷ nay, sớm chiều tiếng chuông chùa ngân vang vọng cùng với khói hương ngào ngạt tỏa ra giữa thanh không vắng lặng, đã hấp dẫn và say đắm biết bao lòng người xứ Huế và du khách bốn phương.

Lịch sử
 

Từ xưa, đây là thảo am thờ nữ thần có tên là Bà Trời. Về sau, nhân dân lập thành chùa thờ. Năm Tân Sửu 1601, Đoan quốc công Nguyễn Hoàng cho xây dựng ngôi chùa mới trên nền cũ. Bấy giờ, sau hơn 6 năm ở kinh đô Thăng Long, giữ chức Thái Bảo, Nguyễn Hoàng trở về Thuận Hóa xây dựng thế lực để biệt lập với họ Trịnh. Một hôm, nhân rỗi việc, Nguyễn Hoàng đi thăm các nơi núi sông cảnh đẹp trong bản trấn. Khi đến xã Hà Khê, huyện Kim Trà địa danh nơi đây vào thời Lê Mạc)thấy giữa chốn đồng bằng đột khởi một đồi cao tựa đầu con rồng, đang nhìn về núi mẹ. Đoan quốc công thầm khen là nơi danh thắng, bèn trèo lên đồi cao ngắm khắp xung quanh. Chợt thấy một đoạn hào cắt ngang dưới chân núi, chưa rõ nguyên do ra sao. Nguyễn Hoàng sai hỏi người địa phương. Các bô lão nói: Tương truyền núi này rất linh thiêng, Cao Biền (nhà Đường) sang làm An Nam sứ, từng đi khắp nơi ở nước ta xem nơi nào có vượng khí thì lập phép trấn yểm. Đêm hôm ấy, Cao Biền chiêm bao thấy một bà lão đầu tóc bạc phơ ngồi dưới chân núi này kêu gào than vản, rồi cất tiếng nói to: “ Đời sau nếu có bậc quốc chủ muốn bồi đắp mạch núi này để làm mạnh cho Nam triều, thì nên lập chùa thờ Phật, cầu linh khi trở về để giúp nước yên dân, tất không có sự gì đáng phải lo ngại”. Nói xong bà lão biến mất. Dân địa phương từ đó đặt tên núi là Thiên Mụ - 天姥 (Bà lão nhà trời). Nguyễn Hoàng nghe nói cả mừng, bảo rằng: “Ấy là bà lão nhà trời bảo ta mở nền định đất, biến nhà thành nước để gây nghiệp lớn”. Nói đoạn, sai người cất dựng chùa Phật, tự tay viết biển đề tên chùa là Thiên Mụ tự - 天姥寺.

Năm Ất Tỵ (1665) Thái Tông Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền) trùng tu. Năm Canh Dần (1710) Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu (chúa Minh) cho đúc chuông lớn. Năm Giáp Ngọ (1714) mở rộng quy mô xây thêm điện thờ Thiên Vương, điện thờ Ngọc Hoàng, điện Đại Hùng, nhà Thuyết Pháp, lầu Tàng Kinh, nhà Thủy Vân, điện Đại Bi, điện Dược Sư v.v…Khi công việc hoàn tất, chúa Nguyễn Phúc Chu tự viết văn bia ghi việc trùng tu đề niên hiệu Lê Vĩnh Thịnh 11 (1715). Cuối thế kỷ XVIII, chùa bị binh hỏa làm hư hại nặng. Đầu đời Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng cho trùng tu. Năm 1846, vua Thiệu Trị cấp tiền sai Hoàng Văn Hậu dựng tháp Phước Duyên cao 87 thước, đồng thời vua cũng liệt cảnh chùa vào trong 20 cảnh đẹp của kinh thành trong bài thơ Thiên Mụ chung thanh. Năm Tự Đức nguyên niên 1847, vua đổi tên là chùa Linh Mụ. Trong những năm 1943-1945, chùa lâm vào cảnh hoang tàn, đổ nát. Hoà Thượng Thích Đôn Hậu đã đứng ra trùng tu, sửa chữa chùa trong suốt 30 năm. Đến năm 1968, chùa Thiên Mụ đã trở lại quang cảnh tươi đẹp như xưa. Ngày nay, chùa Thiên Mụ là danh thắng nổi tiếng trên đất cố đô, một trong những kiến trúc tôn giáo cổ nhất và đẹp nhất ở Huế và đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.

Kiến trúc
 

Quần thể kiến trúc chùa Thiên Mụ tọa lạc trong khuôn viên có diện tích khoảng 6ha. Chùa được bao quanh bằng khuôn tường xây đá hai vòng trong ngoài. Bên trong được chia làm hai khu vực:

Khu vực trước cửa Nghi Môn: gồm có các công trình kiến trúc: Bến thuyền đúc bê tông có 24 bậc tam cấp lên xuống, cổng Tam quan là bốn trụ biểu xây sát đường cái, từ cổng tam quan bước lên 15 bậc tam cấp là đình Hương Nguyện (nay chỉ còn lại nền đất và bộ móng xây bằng đá thanh). Sau đình Hương Nguyện là tháp Phước Duyên xây bằng gạch với bảy tầng cao vòi vọi. Hai bên đình Hương Nguyện có hai lầu bia hình tứ giác (dựng thời Thiệu Trị), lui về phía trong có hai lầu hình lục giác, một lầu để bia và một lầu để chuông (dựng thời Nguyễn Phúc Chu). Đây là những công trình có tính chất lưu niệm (bia, tháp).

Khu vực phía trong cửa Nghi Môn: gồm các điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan âm, nhà Trai, nhà Khách, vườn hoa, phía sau cùng là hồ nước và vườn thông tĩnh mịch.

Dưới đây là những công trình nghệ thuật được đánh giá là quan trọng nhất trong chùa:

Tháp Phước Duyên - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Phước Duyên Bửu Tháp: Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21m) dưới lớn trên nhỏ. Số 7 là con số linh của đạo Phật. Hệ thống bậc cấp trước chùa cũng tính theo số 7. Trong tháp có hệ thống bậc thang xây cuốn từ dưới lên trên, chỉ trừ giữa tầng thứ 6 và tầng thứ 7 là phải dùng cái thang di động bằng gỗ và cái cửa với chìa khoá đặc biệt, vì ở tầng trên cùng này xưa kia có thờ tượng Phật bằng vàng.

Đại Hồng Chung: Chuông cao 2,5m, đường kính 1,4m, nặng 2,025kg, là một tác phẩm nghệ thuật bằng đồng rất xuất sắc của Việt Nam đầu thế kỷ XVIII. Mặt trên quả chuông có 8 chữ “Thọ” khắc theo lối chữ triện, ở giữa thân chuông chia làm 4 khoảng, khắc bài minh của chúa Nguyễn Phúc Chu và chạm nổi những hình ảnh long, vân, nhật, tinh; ở phần dưới khắc hình bát quái và thủy ba.

Bia thời chúa Nguyễn Phúc Chu: Ðây là một tấm bia đá thanh khá lớn, cao 2,6m rộng 1,25m, dựng trên lưng một con rùa bằng đá cẩm thạch dài 2,2m, rộng 1,6m đều được khắc chạm uyển chuyển, tinh vi. Bộ tác phẩm bằng đá này mang giá trị cao và nghệ thuật của thời các chúa Nguyễn.

Điện Đại Hùng: Ðây là ngôi điện chính trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga. Trong lần trùng tu năm 1957, ngoại trừ hệ thống rui và đòn tay, còn tất cả cột, kèo, băng, bệ... đều xây bằng bê tông và phủ bên ngoài một lớp sơn giá gỗ. Trong điện, ngoài những tượng Phật bằng đồng sáng chói, còn treo một cái khánh đồng khá lớn chạm hình nhật nguyệt, tinh tú và khắc những dòng chữ cho biết khánh này do một vị quan người Quảng Trị là Trần Đình Ân thuê đúc năm 1677 để cúng cho chùa và treo một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu ngự đề năm 1714.

Đình Hương Nguyện cũ: Một trong những công trình kiến trúc bằng gỗ rất đặc biệt của thời vua Triệu Trị (1841 - 1847) mà hiện nay còn bảo lưu được ở chùa Thiên Mụ là bộ sườn của đình Hương Nguyên. Đình Hương Nguyên được xây trước mặt tháp Phước Duyên. Trong trận bão năm Thìn (1904) đình bị đổ. Để cho không gian tại đây được thoáng, người ta đã đem ngôi đình cũ vào dựng lại tại nền điện Di Lặc xưa để thờ Đức Địa Tạng. Đây là nguyên mẫu một ngôi nhà tứ giác độc đáo của 150 năm trước. Đứng trong nhà nhìn lên, chúng ta thấy hình bát quái được cấu trúc khéo léo ở cái nóc duy nhất ở chính giữa.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt