<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Keo
Dũng Nhất - Vũ Thư - Thái Bình

Vị trí
 

Chùa Keo toạ lạc tại xã Dũng Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chùa có tên chữ là Thần Quang tự. Chùa được xây dựng vào đầu thế kỷ XVII, thờ thiền sư Không Lộ thời Lý.

Kiến trúc
 

Chùa Keo gồm 17 toà, 128 gian được khẳng định là ngôi chùa lớn nhất Việt Nam. Kiến trúc chùa được bố trí từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Ngoài cùng là Tam quan ngoại, đi vòng theo hồ hình chữ nhật vào tam quan nội, tiếp đó là khu chùa chính, kiến trúc theo lối “nội công ngoại quốc”. Ở giữa là hạ điện, trung điện và thượng điện. Tòa ngoài cùng có tượng Hộ pháp nên gọi là chùa Ông Hộ, tòa giữa thờ Giá Roi (7 gian) nên gọi là chùa Giá Roi. Cuối cùng là gác chuông.

Gác chuông chùa Keo là một kỳ công về nghệ thuật kiến trúc, gồm ba tầng cao tới 11,5m, bên trong treo 3 quả chuông lớn nhỏ; bộ khung bằng gỗ quý, kết cấu phức tạp bao gồm một hệ thống cột, xà, con sơn, đấu, lan can… liên kết với nhau chủ yếu bằng mộng ngậm, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đầu đao uốn cong duyên dáng. Từ một góc nhìn thích hợp, gác chuông chùa Keo trông như đóa hoa sen mới nở, vươn lên những cây cau cao vút, đậm đà hương sắc đồng quê.

Bộ cánh cửa tam quan nội chạm rồng là đôi cửa điển hình nhất của nghệ thuật điêu khắc thời Lê. Góc chùa Ông Hộ có sen che lưng cá hóa rồng là bức tranh miêu tả sinh động Thiền sư Không Lộ. Hệ thống 84 con sơn nội, con sơn ngoại với đề tài long phi, long giáng, long cuốn, nghê đội, nghê gánh xà, bẩy là 84 tác phẩm điêu khắc sinh động. Hệ thống đấu củng, đấu vọi những đàn chim sải cánh nâng đỡ tòa mái nhà gác chuông là sự sáng tạo trong kiến trúc cổ tiêu biểu nhất, đưa gác chuông chùa Keo thành tác phẩm điêu khắc độc nhất vô nhị.

Chùa Keo còn gọi là chùa Phật vàng, là một bảo tàng tượng cổ và đồ tế khí cổ thời Lê gắn với 100 pho tượng như Tam Thân, A Di Đà, Quan Âm toạ sơn, Quan Âm Thị Kính, Hoa Nghiêm Tam Thánh, Hộ Pháp, Kim Cương… Đặc biệt hơn cả là tượng Không Lộ tạc bằng gỗ trầm. Trong chùa có những hiện vật liên quan đến Không Lộ như ba vỏ ốc để ngửa làm chén uống nước, một bộ tràng hạt của thiền sư đeo, một bình vôi to, một gậy trúc dài 3 thước, một cột gỗ chò cao 25m, một pho tượng gỗ trầm hương thờ trong cung cấm.

Lễ hội
 

Chùa Keo là một di tích lịch sử, tôn giáo, kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng có giá trị đặc biệt, được bảo tồn tương đối nguyên vẹn cả cảnh quan không gian và bố cục kiến trúc. Hằng năm chùa mở hội hai lần: hội xuân và hội thu.

Hội chùa Keo được tổ chức tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Hằng năm, chùa mở hội hai lần: hội xuân vào tháng giêng và hội thu vào tháng chín.

Hội xuân được mở vào ngày mồng 4 Tết. Người lễ Phật cũng dâng hương hoa cầu thánh. Hội có cuộc thi: nấu cơm, bắt vịt và ném phao. Các cuộc thi trong hội xuân đã góp phần rèn luyện cho trai gái trong làng sự khéo tay, sự tháo vát trong lao động, rèn luyện thân thể thêm cường tráng.

Hội thu là lễ hội quan trọng của hội chùa Keo. Không những hội gắn bó với chùa, với Phật mà cả một phần đời thế tục của thiền sư Không Lộ cũng được tái hiện bằng nghệ thuật diễn xướng trong đám rước lớn. Nội dung văn hoá và lịch sử của xã hội được thể hiện đặc sắc trong các hoạt động suốt ba ngày, từ ngày 13 đến 15 tháng 9. Hội được chuẩn bị chu đáo. Tám giáp bầu ra một ông chủ hội đại diện cho giáp để lo việc tổ chức.

Bên cạnh hội xuân và hội thu, hội chùa Keo còn có đua thuyền. Cuộc đua kéo dài suốt ba ngày liền. Giải ngày nào được trao ngay trong ngày ấy. Sau ba ngày, sẽ tổng kết xếp hạng.

Trong khi ngoài sông diễn ra cuộc đua trải thì trong tòa thánh giá roi có cuộc thi “thầy đọc”, tức là các thầy cúng thi đọc văn tế. Bài văn do từng thí sinh sáng tác theo đề tài “lục cúng”. Thí sinh phải khăn áo chỉnh tề, tự trình bày bài văn của mình với chất giọng trong và mạch lạc.

Tiếp theo là cuộc thi thổi kèn và đánh trống. Kèn thi ở đây là loại kèn bát gỗ, dài gần một mét. Trống thi gồm ba loại: trống cơm, trống bản và trống bầu. Thi đơn và cả thi kép.

Ngày 14, kỷ niệm sinh nhật sư Không Lộ. Sau lễ dâng hương đến đám rước. Tại tòa Giá roi diễn ra nghi lễ chầu thánh mang tính nghệ thuật. Đó là một điệu múa cổ gọi là “múa ếch vồ”.

Ngày 15, mọi nghi thức tiến hành như ngày 14, nhưng có thêm trò chèo trải cạn chầu thánh và ban đêm sau khi rước kiệu hoàn cung.


Xuân Hồng - Xuân Trường - Nam Định

Vị trí
 

Ngôi chùa còn có tên gọi khác là Thần Quang, Diên Phúc hay chùa Keo Hành Thiện. Chùa thuộc làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Phật tử và người dân gọi là chùa Keo Hành Thiện để phân biệt với chùa Keo ở Hà NộiThái Bình.

Lịch sử
 

Chùa do Lý Nhân Tông giao cho thiền sư Nguyễn Giác Hải khởi dựng năm 1121. Khi chùa dựng xong, Giác Hải thiền sư đã trụ trì ở đó. Chùa đã qua tu sửa vào những năm 1138 và 1167. Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, sau nhiều lần lụt lớn, bờ sông sạt lở, dân làng dời chùa vào phía trong đất trại, dựng lại ở địa điểm hiện nay.

Kiến trúc
 

Hiện nay, chùa Keo Hành Thiện là một quần thể kiến trúc với 13 tòa rộng, dãy dài gồm 121 gian nối tiếp nhau. Phía trước chùa có hồ bán nguyệt, soi bóng tháp chuông mái cong uy nghiêm.

Gác chuông trước cửa chùa là sự kết hợp hài hòa của kiến trúc tam quan nội 5 gian, làm theo kiểu chồng diêm, cao 7m5. Dáng vẻ thanh thoát với mái cong, bờ cánh kẻ bảy uốn lượn. Phía dưới là 8 đại trụ và 16 cột quân được đặt trên đá tảng chạm khắc hoa văn cánh hoa sen nở. Phần trên, kết cấu theo kiểu chồng rường đỡ mái. Những mảnh cuốn ở các vì và các then ngang, đố dọc đều mang đậm phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê. Đứng ở hai cửa tả, hữu của Tam quan nhìn vào, khách tham quan sẽ thấy toàn cảnh kiến trúc của chùa Keo Hành Thiện. Hai bên đường kiệu lát ngạch, kề liền hai dãy hành lang, mỗi dãy gồm 40 gian bề thế.

Phần trung tâm của chùa bao gồm: Tiền đường năm gian, tòa đệ nhị ba gian, tòa thờ Phật và ba tòa sau thờ Thánh tổ Thiền sư Không Lộ. Cuối cùng là 10 gian nhà Tổ. Tất cả được chạm khắc tinh vi trên các mảng đố lụa, khung bao, con sơn, kẻ bẩy. Đặc biệt chú ý là 3 bộ cánh cửa gồm 10 cánh được chạm khắc thể hiện 10 đề tài khác nhau. Đề tài chạm khắc phong phú: Long cuốn thuỷ, ly ngậm ngọc, phượng ngậm cành hoa, tứ linh, tứ quý, nghê đội nóc đao, là hoả đao mác, vân mây uốn lượn. Đặc biệt là những chạm khắc hình rồng ở các kiến trúc trung tâm rất đa dạng, con rồng lúc ẩn lúc hiện ở trong các trạng thái khác nhau với đường nét khắc hoạ tinh vi, sắc sảo, sống động và mềm mại, chắc khoẻ theo phong cách dân gian vùng châu thổ sông Hồng. Sau tòa thờ Phật là đền thánh, thờ thiền sư Không Lộ với 3 tòa quy mô được cấu trúc theo kiểu “thượng bò cuốn, hạ kẻ bẩy và kẻ nội đấu truyền”. Nội thất được chạm khắc hoa văn công phu và đẹp. Bên trong các tòa có ánh sáng huyền ảo. Tượng thiền sư uy nghiêm, siêu thoát. Cuối cùng là 10 gian nhà tổ, nhà oản nối liền với tường cao bao bọc, góp phần tạo nên sự thâm nghiêm, u tịch của cảnh chùa.

Di vật
 

Chùa còn lưu giữ những di vật có giá trị của thế kỷ thứ XVII như án thư, sập thờ, tượng pháp, chuông khánh, văn bia, hoành phi, câu đối và sách chữ Hán nói về lịch sử chùa Keo. Kể từ ngày khởi dựng, chùa Keo Hành Thiện đã được tu sửa nhiều lần vào các năm: Hoằng Định thứ 13 (năm 1612), Cảnh Trị thứ 9 (năm 1671), Chính Hoà thứ 25 (năm 1704), Thành Thái thứ 7 (năm 1896). Năm 1962, chùa Keo được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá.

Lễ hội
 

Hàng năm, chùa mở hội hai lần vào dịp Tết Nguyên Đán và hội tháng 9 (mở vào ngày 13, 14, 15) để kỷ niệm ngày sinh của Thánh tổ Không Lộ. Trong đó, hội tháng 9 được tổ chức trọng thể. Ngoài những nghi thức mang tính tôn giáo, hội tháng 9 còn là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hoá tinh thần của cư dân nông nghiệp. Chính vì vậy, vào ngày hội, không chỉ nhân dân trong vùng mà du khách thập phương trong Nam ngoài Bắc đều nô nức kéo về dự hội. Ca dao xưa có câu:

Dù ai ngang dọc Tây Đông

Ngày rằm tháng chín hội Ông nhớ về

Dù ai bận rộn trăm bề

Ngày rằm tháng Chín nhớ về hội Ông

Muốn về thăm thắng tích chùa Keo Hành Thiện, du khách có thể đi bằng đường bộ hoặc đường thuỷ đều thuận tiện. Nếu đi đường thuỷ thì từ thành phố Nam Định, du khách xuôi dòng sông Hồng chừng 20 km là đến bến Mom Rô, rẽ trái 300 mét là tới khu vực chùa. Nếu đi đường bộ thì du khách đi theo quốc lộ 21, đến bến phà Lạc Quần, rẽ trái 20 km nữa là tới.


Xã Kim Sơn - Huyện Gia Lâm - Thành phố Hà Nội

Chùa có tên chữ là Báo Ân Trùng Nghiêm tự. Chùa Keo thuộc thôn Giao Tự, tức làng Chè. Vì trước kia cả làng Chè (Giao Tự) và làng Keo (Giao Tất) đều có chung ngôi chùa nên vẫn quen gọi là chùa Keo, mặc dù hiện nay ngôi chùa thuộc địa phận làng Chè. Vì thế nên mới có câu Chùa Giao tất, đất Giao Tự. Tên Keo bắt nguồn vớ ý nghĩa hai thôn Giao Tự và Giao Tất gắn bó với nhau như keo sơn. Làng Chè hiện nay thuộc xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 20km về phía Đông.

Chùa Keo cách Luy Lâu khoảng 4km về phía Đông, thờ Bà Keo tức Pháp Vân - một trong tứ pháp trong hệ thống thờ tự của Việt Nam. Trước Cách mạng tháng Tám và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chùa Keo là nơi hoạt động cách mạng của nhiều đồng chí trong vùng.

Chùa được xây dựng cách đây hàng ngàn năm, khi đạo Phật bắt đầu du nhập vào nước ta. Chùa đã được trùng tu nhiều lần, những lần trùng tu lớn còn được ghi rõ trên các bia năm 1611, 1638, 1787. Trong kháng chiến chống Pháp, chùa bị hư hại nặng nên được trùng tu lớn.

Chùa Keo nằm trên một khu đất rộng ở nơi khu cư trú của hai làng Giao Tất và Giao Tự, trên đường Thiên Lý đi các nơi, có cảnh đẹp, với núi sông bao quanh. Xưa kia, trước cửa chùa là một cầu đá rồi đến cổng tam quan hai tầng, tám mái với bia đá to ở hai bên nhưng nay tam quan không còn mà chỉ có một cổng ra vào đơn giản rồi đến sân, chùa chính, nhà thờ Mẫu, nhà thờ Tổ và khu vườn Tháp.

Chùa chính gồm có tiền đường và hậu cung. Ở hai đầu của tiền đường xưa là gác treo chuông, khánh. Tại hai gian hồi có đặt tượng hai ông Hộ Pháp đứng trên mãnh sư. Tiếp theo tiền đường là hai dãy hành lang, mỗi dãy đặt 9 vị La Hán. Tại thềm thượng điện có hai con nghê đá, miệng ngậm ngọc. Trong toà thượng điện treo nhiều hoành phi, câu đối. Phía ngoài đặt một hương án lớn chạm trổ rồng mây trên có đặt những tượng Phật, rồi đến một bệ xây trên đặt tượng Pháp Vân (bà Keo) và các tượng khác. Phía trong ngoài toà Tam bảo còn xây một tháp ngũ giác ba tầng với nhiều tượng Phật.

Điện Mẫu và nhà thờ Tổ ở phía sau chùa chính. Tại đây không chỉ có tượng Mẫu, tượng Tổ mà còn đặt nhiều pho tượng khác vì diện tích chùa chính được phục hồi nhỏ hơn trước, không đủ chỗ đặt các tượng Phật hiện có.

Vườn tháp mộ của các vị sư đã viên tịch ở phía sau nhà Mẫu và có 7 ngôi tháp ba tầng.

Chùa Keo có tất cả 47 pho tượng Phật, trong đó có nhiều pho tượng mang phong cách nghệ thuật thế kỉ XVII - XVIII, đặc biệt tượng bà Keo là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị ở thế kỉ XVIII.

Chùa Keo cũng còn lưu giữ được 6 tấm bia đá, trong đó tấm bia đá làm cầu đá, bia một khắc khoảng 800 chữ chân phương, ghi tên các tín chủ gồm 35 người cúng tiền để xây cây cầu đá phía trước cổng chùa Trùng Nghiêm. Đây là tấm bia từ thời Mạc quý hiếm ghi việc làm cầu đá tạo việc đi lại, thông thương và mối quan hệ giữa hai làng Giao Tất và Giao Tự. Tấm bia Hoằng Định thứ 15 (1615) đã ghi tỉ mỉ về các lần trùng tu, tôn tạo chùa, một quả chuông đúc thời Cảnh Thịnh (1794), một chiếc khánh đồng, 8 đạo sắc phong cho bà Keo cùng nhiều đồ thờ tự, nhiều mảng chạm quý, đẹp mang phong cách nghệ thuật thế kỉ XVI - XVII.

Chùa Keo đã bị hư hại nhiều trong hai cuộc kháng chiến. Tuy phần nào đã được phục hồi nhưng công việc trùng tu, tôn tạo còn phải được tiếp tục một cách thích đáng để bảo lưu giá trị của một ngôi chùa cổ.

Chùa đã được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hoá năm 1993.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt