<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Chùa Dâu
Nhật Tân - Gia Lộc - Hải Dương

Vị trí

Ngôi chùa ở thôn Thị Đức, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, có tên chữ là Sùng Thiên Tự. Ngoài ra, chùa có nhiều tên gọi khác nhau. Gọi là chùa Hàn vì có con sông Hàn chảy cạnh chùa. Gọi là chùa Thị Đức vì chùa thuộc thôn Thị Đức. Gọi là chùa Ba Xã vì chùa nằm giữa cánh đồng thuộc ba xã Nhật Tân, Đồng Quang và Quang Minh. Tên Dâu do ngày xưa lũ lụt thường xuyên, đưa về đây nhiều cây gỗ lớn, dân lấy gỗ tạc tượng Phật, thấy thứ gỗ vàng óng như tơ, cho đó là gỗ dâu, nên cũng gọi tên chùa là chùa Dâu.

Lịch sử - kiến trúc

Theo nội dung của văn bia năm 1331, chùa được xây dựng vào đầu đời Trần, có quy mô 100 gian, xung quanh có tường và rào tre, cách xa khu dân cư 1km. Đến đời Lê, chùa được trùng tu lớn, hiện còn 2 bia: Vĩnh Thịnh 6 (1710) và Cảnh Hưng 21 (1760) ghi lại đợt trùng tu này.

Qua thời gian và chiến tranh, chùa Dâu đã đổ nát, ngôi chùa hiện nay được xây dựng vào thế kỷ XX, bố cục kiểu chữ - Đinh, gồm nhà Tiền đường 5 gian, Hậu cung 3 gian, kết cấu con chồng, đấu sen, chạm khắc đơn giản. Các tượng Phật đầu được làm từ chất liệu gỗ son, còn khám thờ có tượng công chúa Tiên Dung bằng gỗ dâu, tư thế ngồi, cao 1,3m. 

Trong chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật đá có giá trị như cây trúc đài vuông, cao 85cm, hai tấm bia thời Lê, một số gốm đất nung, mảnh tháp, mảnh đầu chim phượng, mảnh đất nung đầu rồng cùng một số gạch ngói có hoa văn niên đại thế kỷ XIII, XIV. Độc đáo nhất vẫn là tấm bia Phật niên đại 1331, cao 1,5m, dày 20cm, văn bia 1.180 chữ, đặt trên lưng rùa to khoẻ.  Mái bia cong vừa phải, thân bia có đường diềm chạm rồng mặt trước, chạm hoa dây mặt sau, có khắc chữ 崇天寺 - Sùng Thiên Tự. Cả mặt trước bia khắc chữ - Phật lớn, đẹp như một bức tranh chữ.  Lễ hội chùa mở ngày 10 tháng Tám âm lịch, có nhiều trò vui, thu hút nhiều người dân trong vùng. Chùa được xếp hạng di tích quốc gia năm 1992.


Tả Thanh Oai - Huyện Thanh Trì - Hà Nội

Thượng Phúc là một trong bốn thôn của xã Tả Thanh Oai với Siêu Quần, Tả Thanh Oai và Hữu Thanh Oai thuộc huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Vào thời Lê, các tên làng Kẻ Gùn (Quần Cư - Siêu Quần), Tả Tó (Hoa Xá), Hữu Thanh Oai, Kẻ Hạ (Thượng Phúc) thuộc phủ Ứng Thiên, Trấn Sơn Nam Thượng. Chùa Dâu ở phía cuối thôn Thượng Phúc của xã.

Quần thể Đình - đền - chùa ở Thượng Phúc đều thờ bà Hồ Thuận Nương, vợ vua Trần Minh Tông (1314 - 1329). Bà đã từng về đây lánh nạn khi quân Chiêm Thành cướp phá Thăng Long. Bà tu ở chùa Bảo Tháp rồi sau xây chùa Dâu (Phúc Khê tự). Bà Thuận Nương trở thành thành hoàng của làng Thượng Phúc và câu chuyện kể về bà lưu truyền trong dân gian cũng giống như bà chùa Hến của làng Tó hay chuyện cô Tấm trong cổ tích.

Chùa Dâu nằm ở cuối làng, là nơi hội tụ của dân Ngũ Phúc, Khê Lương và Khê Tang nên còn gọi là Phúc Khê tự. Đây vẫn là Kẻ Hạ, Trang Hạ xưa và Thượng Phúc ngày nay. Theo truyền tụng, chùa Dâu ra đời vào thời Trần nhưng am chùa Dâu có từ thời Lý để thờ thần Pháp Vũ, mong mưa thuận gió hoà cho mùa màng tươi tốt. Nơi đây còn lưu truyền một truyền thuyết: Một năm vào triều Lý Cao Tông, mưa lũ tràn đầy sông Nhuệ cuốn trôi về đây pho tượng gỗ Đức ngài Pháp Vũ dạt vào bờ Khe Hạ (khu vực chùa Dâu, Phúc Khê). Nước cứ trôi, tượng gỗ thì dừng lại, chống lại dòng nước hung dữ. Trẻ chăn trâu trông thấy pho tượng phát ra ánh hào quang lấy làm lạ, hò nhau vớt tượng lên bờ, lấy gạch đá kê cho pho tượng đứng lên ngay ngắn. Tượng đức ngài linh thiêng. Ngài quý trẻ mục đồng, phù trợ cho chúng. Trẻ chăn trâu dưới trời nắng gắt vẫn không bị nhức đầu, khát nước, uống nước lã trong chùa vẫn không sao. Những năm hạn hán, dân lập đàn tế lễ cầu mưa. Ngài giúp dân làm mưa, giúp dân trong sản xuất nông nghiệp, tạo lập cuộc sống tốt lành.

Chùa Dâu nằm bên dòng sông Nhuệ, nơi mà xưa kia có cây cầu gọi là Khê Lương Kiều nối phía tả là Trang Hạ với phía hữu là Khê Lương, Khê Tang. Tổng thể kiến trúc của chùa gồm chùa chính (tiền đường và hậu cung), bên trái là nhà bia, nhà thờ Mẫu, bên phải là am thờ thần Pháp Vũ.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Chùa Dâu (Phúc Khê Tự) có gác chuông để trên Tam quan. Chuông đánh vang vọng cả một vùng Thượng Phúc, Khê Lương, Cự Khê và Kê Tang. Đồng thời chuông chùa điểm canh cho thuyền bè qua lại và sinh hoạt của người dân. Dân trong vùng còn dựng cầu Khê Lương nối từ tả Trang Hạ với phía hữu là Khê Lương, Khê Tang rồi sang Cự Khê, Khúc Thủy. Đầu cầu, bên gốc đa của chùa dựng hai bia đá. Bia ghi nhận sự kiện liên quan đến cầu, địa danh nơi đây và chùa. Trán bia chạm hoa văn rồng chầu mặt trời, chân bia đặt trên lưng rùa đá đang bơi trên sóng thủy triều. Hàng chữ ghi ngang mặt bia: “Khê Thượng kiều bi” (bia cầu Khê Thượng)”.

Hai tấm bia ghi Khê Tang kiều bi (bia cầu Khê Tang) ghi việc quyên tiền của nhà chùa để xây cầu đá qua sông, do các tín chủ thành tâm đóng góp. Nay hai tấm bia đã được quỹ công đức chuyển và xây nhà bia, dựng lại phía trái của chùa. Bia do Nguyễn Hoàng Nhuận, tiến sĩ Cẩn sự Lang Hàn Lâm Hiệu lý, người Thanh Oai soạn. Bia có 32 dòng ghi kín từ trên xuống những tên, họ và số tiền công đức xây cầu đá, khoảng 1600 chữ viết thảo. Mặt sau của bia còn lại rất ít chữ. Một tấm bia khác thì có rất ít chữ ở mặt trước, mặt sau không khắc. Song nhìn vào hoa văn trên trán bia, diềm và chân bia cho thấy hai tấm bia cầu đá này có cùng thời. Trán bia là hai rồng chầu mặt trời như trong Đại Việt sử kí toàn thư miêu tả, ngoài ra còn có hai vòng tròn, xung quanh là những đao thẳng bay ra tạo mây và rồng uốn khúc rõ cả chân và móng vuốt. Diềm bia là những vân xoắn tạo thành, chân bia chạm hình sóng hình chữ S và các đao mác toả ra.

Dáng chung của hai bia đều có trán thấp, các hoa văn khắc trên bia mang nét nghệ thuật ở thời Mạc. Bia ghi niên hiệu Sùng Khang 7 (1572), đời Mạc Mậu Hợp.

Sớm hơn hai tấm bia đời Mạc vừa nêu là tấm bia hậu Phật còn lưu giữ trong chùa Dâu. Bia có niên đại Hồng Đức thứ 4 (1473), đời vua Lê Thánh Tông. Đây là một tấm bia hậu Phật có niên đại cổ nhất từ trước đến nay mà chúng ta được biết. Tấm bia nay đã có tới 530 tuổi. Bia với nội dung nêu việc tín chủ phát tâm công đức, cúng tiến cửa Phật, rồi đưa vong  của thân nhân gởi nhờ cửa Phật. Dòng đầu của văn bia còn khắc rõ địa danh nơi đây cùng niên đại ra đời. Cuối bia có dòng chữ "Tuế thứ Quý Tị niên, thất nguyệt, sơ nhất nhật, ngự dụng Lam San, Thư cục Lê Năng khắc".

Tấm bia hậu Phật ở chùa Dâu (Phúc Khê tự) không chỉ có niên đại cổ nhất mà còn ghi đậm những dấu ấn nghệ thuật chạm khắc rất tinh xảo thời Lê Sơ.

Toàn bộ trán và hai diềm bia đều chạm những vân tròn hở, mang yếu tố Âm hoặc Dương chưa được kết hợp. Nó là một vùng biểu tượng ở một vùng trời rất nguyên sơ, đồng thời qua đó cho thấy được nguồn phát sáng mà nghệ nhân gửi vào nét chạm. Hội tụ của các nguồn sáng ở chính tâm tạo thành một bông hoa như sự hoá thân của Mặt trời. Đế bia tạo thành một bông sen nở.

Tượng Phật trong chùa được tạo tác đẹp, nhiều tượng mang nét nghệ thuật ở thế kỉ XVIII như tượng Tam Thế Phật. Những pho tượng trong chùa làm bằng chất liệu gỗ, đồng, đất đều sơn son thếp vàng, mang đậm phong cách dân gian, thể hiện tài khéo léo của các nghệ nhân xưa. Tất cả toát lên một thế giới thiền định, nêu rõ tính chủ đạo của chùa đề cao công đức, uy linh của đạo phật. Các tượng đều rút ngắn chiều cao, nhấn mạnh đặc điểm, chủ đề của nhân vật tượng. Như tượng Thích Ca niệm hoa, tay “Vô úy phật” được kéo dài gần hết đài sen, làm rõ sức thuyết pháp, yểm triệt tà ma. Các đầu tượng phật phán quan đều to, đề cao phần trí và tâm, thân tượng nở nang, y phục đơn giản, toát phong thái khai mở tâm đức. Tượng A-Di-Đà tọa sen đường bệ, gợi tỏa nguồn sáng “Tân-Trí-Đức” bất tận.

Một đặc điểm nổi bật của chùa Dâu Phúc Khê là đề cao đạo đức, tâm đức, công đức. Trước Tam bảo chùa treo tấm hoành phi “Công đức vô lượng”, hoành phi ghi tại tượng Đức ông là “Chính trực, Bia đá, Niên nguyệt Nhật trường”, ca ngợi đạo đức Cao Minh Chính Thánh Vương… Ngoài ra, trong chùa còn có những câu đối đề cao công đức, sự cảm hoá của đạo phật.

Chùa Dâu (Phúc Khê tự) đã được xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hoá năm 2003.


Đông Hải - Tiên Yên - Quảng Ninh

Ngôi chùa ở xã Đông Hải, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Chùa được xây dựng hoàn toàn bằng đá phiến. Lễ hội chùa Dâu được tổ chức vào rằm tháng giêng âm lịch hàng năm.          


Thị trấn Nghĩa Đô - Quận Cầu Giấy - Hà Nội

Chùa Dâu thuộc làng Dâu. Xưa kia làng này chuyên trồng dâu nên thành tên. Chùa còn có tên chữ là Phúc Ân tự hay chùa Vạn Long, nay thuộc thị trấn Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Chùa thờ Phật, thờ các Thánh Mẫu và Trần Hưng Đạo. Tương truyền, chùa được xây dựng từ thời Lý. Trước kia chùa có quy mô khá lớn, nhưng qua quá trình đất bị lấn chiếm đến nay diện tích chỉ còn khoảng gần 1000m2. Khuôn viên chùa Dâu gồm sân với phần bên phải được trồng cây ăn quả và phần bên trái là nhà khách. Chùa chính được làm mới vào những năm đầu thế kỉ XX sau khi chùa cũ bị hoả hoạn thiêu rụi hoàn toàn.

Chùa chính gồm có tiền đường, hậu cung, nhà thờ Mẫu, thờ Tổ và vườn cây. Tiền đường với các bệ thờ "khuyến thiện", "trừng ác", Đức thánh tăng, Đức Ông. Đầu hai hồi là bệ thờ các vong hồn với 5 tấm bia đá mang niên đại thời Nguyễn, một quả chuông đồng. Ngoài Di Đà, Quán Âm, Thích Ca, hai bệ bên sát tường thờ Thổ Địa và Đức Thánh Trần. Ngoài ra, trong chùa còn có nhà thờ Mẫu và thờ Tổ với hai ban thờ: một ban thờ các tượng Tam Toà thánh mẫu và một ban thờ tượng Trần Hưng Đạo. Vườn ở phía sau chùa chính.

Trong những ngày gần đây, do việc quy hoạch đường Hoàng Quốc Việt, chùa Dâu đã được chuyển lui vào phía sau. Chùa đang được trùng tu lớn. Hiện tam quan chùa đã xây hoàn thành, quay về hướng Nam, nhìn ra đường Hoàng Quốc Việt. Chùa Dâu là một di tích văn hoá quan trọng, cần được trùng tu tôn tạo hơn nữa để xứng đáng là một cổ tự vùng ven đô.


Thanh Khương - Thuận Thành - Bắc Ninh

Vị trí
 

Đây là ngôi chùa ở làng Dâu, xưa thuộc xã Khương Tự, huyện Siêu Loại, nay là xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Chùa Dâu còn có các tên gọi khác nhau là: 法雲 - Pháp Vân, 延應 - Diên Ứng, 古朱 - Cổ Châu, 禪定 - Thiền Định. Chùa được xây dựng vào thế kỷ thứ II sau Công nguyên, gắn liền với huyền tích Man Nương. Đây được xem là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam.

Lịch sử
 

Theo sự tích ghi trong ngọc phả, khoảng cuối đời Tây Hán có nhà sư Tây Trúc là Khâu Đà La vân du tới trị sở của Sĩ Nhiếp – Thái thú Giao Châu (187-226) – ở thành Liên Lâu (thường gọi là Luy Lâu), được một người mộ đạo mời về nhà ở hương Siêu Loại. Nhà ông thí chủ có cô con gái 20 tuổi, tên Man Nương. Hàng ngày ngoài việc giảng giải giáo lý nhà Phật, sư Khâu Đà La còn dạy cho gia đình Man Nương và dân làng cách tìm mạch đào giếng để lấy nước sinh hoạt. Ít lâu sau, Man Nương tự nhiên mang thai, 14 tháng thì sinh con gái. Man Nương bế con vào núi tìm Khâu Đà La để trả đứa bé. Khâu Đà La đặt tên đứa bé là Đà La Tử, rồi niệm thần chú, hô cây rừng nhờ chăm sóc. Một cây dung thụ (thuộc loại cây đa) tự tách đôi ra, Khâu Đà La đặt đứa bé vào trong thân cây, hai mảnh cây liền khép lại.

Thời gian trôi qua, cây dung thụ ấy bị bão giật đổ, nước lũ cuốn đến bên thành Luy Lâu. Dân chúng thấy cây gỗ phát hào quang, toả mùi thơm ngát, bèn trình với Thái thú Sĩ Nhiếp. Sĩ Nhiếp lấy làm lạ, sai lực sĩ kéo lên bờ, nhưng không sao kéo nổi. Vừa lúc đó Man Nương đến, chỉ đẩy nhẹ mà cây gỗ tự lăn lên bờ. Đêm ấy Sĩ Nhiếp mộng thấy thần nhân ngỏ ý muốn được tạc tượng thờ. Sáng dậy, Sĩ Nhiếp sai xẻ cây gỗ làm tư, lấy gỗ tạc 4 pho tượng. Nhân hạn hán, lễ hoàn công 4 pho tượng trở thành lễ cầu đảo. Mây đen kéo đến, một trận mưa to đổ xuống trong chớp giật sấm rền. Bốn pho tượng được Sĩ Nhiếp đặt tên là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi, lần lượt được thờ ở các chùa Pháp Vân (chùa Dâu), Pháp Vũ (chùa Đậu), Pháp Lôi (chùa Phi Tướng), Pháp Điện (chùa Xuân Quang). Các ngôi chùa này đều ở Thuận Thành, Bắc Ninh. Riêng ngôi chùa Đậu đã bị phá huỷ trong chiến tranh, nên tượng Pháp Vũ cũng được mang về thờ tại chùa Dâu. Ngoài ra, ở một số tỉnh thành khác cũng có những ngôi chùa thờ bốn vị Tứ Pháp này.

Khoảng đầu Công nguyên, một số nhà sư từ Ấn Độ đi theo đường biển vào Luy Lâu để truyền đạo. Năm 580, Tì ni Đa Lưu Chi đã từng truyền đạo ở đây. Chùa Dâu trở thành trung tâm truyền đạo đầu tiên ở Việt Nam. Khi đó, chùa Dâu chỉ là một cái am nhỏ, sau phát triển thành một ngôi chùa, tên gọi đầu tiên là Cô Châu Tự. Năm 1313 là đợt hưng công lớn nhất, vua Trần Nhân Tông đã sai Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi cho xây chùa to lớn như ngày nay.

Kiến trúc
 

Chùa Dâu ngày nay có bố cục theo kiểu nội Công () ngoại Quốc (), chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Gian tam bảo là nơi thờ Thích Ca, tòa Cửu Long, Tam Thanh, Tam Thế, A di đà. Đối xứng 2 bên thường là các vị Thập điện, 2 ông Hộ Pháp, Bát bộ kim cương. Lan toả ra vòng ngoài dãy hành lang hậu đường là các vị Thập bát La Hán, đức Thánh Hiền, Phật Bà Quan Âm, Đức Ông và nhà Tổ, nhà Mẫu... . Đặc biệt, ở gian giữa chùa có tượng Bà Dâu, hay còn gọi là nữ thần Pháp Vân, uy nghi, trầm mặc, màu đồng hun, cao gần 2m. Tượng có gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán khiến ta liên tưởng tới những nàng vũ nữ Ấn Độ. Ở hai bên là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ.

Lễ hội
 

Hàng năm, chùa Dâu mở lễ hội vào ngày 17 tháng Giêng âm lịch, đúng vào ngày sinh của Phật Mẫu Man Nương và chính hội vào ngày 8 tháng 4 Âm lịch, đúng vào ngày Lễ Phật Đản và là ngày khánh thành tượng Tứ Pháp. Hội lễ ngày 17 tháng Giêng tương truyền là ngày sinh của Man Nương, có hội thi bánh dày nổi tiếng ở làng Dâu. Để chuẩn bị hội, hai giáp Đông và Trung, mỗi giáp dành ba sào ruộng tốt để cấy lúa nếp. Từ ngày 6 tháng Giêng các giáp xay giã, chọn nếp tốt, sau đó gói bánh. Sáng sớm ngày 17, chiêng trống nổi lên, các giáp trưởng rước bánh ra chùa lễ Phật rồi dự thi. Bánh dự thi đường kính là 50 cm, phủ giấy điều bày mâm một cách trịnh trọng.

Hội lễ tắm tượng Phật được tổ chức vào ngày 8 tháng 4 là một hội lễ lớn. Đây là hội lễ có sự tham gia của nhiều làng liên quan trong tích Phật Mẫu Man Nương. Để bước vào hội, các đội múa rồng của 12 làng trong tổng Khương Thượng cũ tập luyện chu đáo, 4 ngôi chùa thờ Tứ Pháp được sửa sang và quét dọn sạch sẽ. Các viên chức hàng Tổng, làng Dâu và đại diện cho giáp Đông, giáp Trung nghị bàn công việc cho ngày hội lễ. Trong chiều ngày mồng 6, tại các chùa thờ Tứ Pháp làm lễ hạ toạ và phong áo cho Tứ Pháp. Vào ngày chính hội, dân 12 làng trong Tổng lần lượt thay nhau đón các bà Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện về làng mình để ăn khao, đến chiều rước trả các bà về chùa. Riêng bà Pháp Vân là chị cả nên ở lại chùa. Ngày chính hội lễ mồng 8, tứ sáng sớm, dân làng rước tượng Sĩ Nhiếp từ đền Lũng, làng Lũng Khê, cách làng Dâu khoảng 4km về chùa Dâu cùng khai hội. Khi hội mở thì rước trả ngay về đền Lũng. Gần đến trưa, dân làng Dàn rước tượng Pháp Điện về chùa Dâu, trước kiệu là 39 tay gậy tre đi dẹp đường, trình diễn những điệu múa đẹp và sau đó là tượng Pháp Lôi, Pháp Vũ cùng vào chùa Dâu. Giữa trưa có cuộc thi cướp nước của hai bà Pháp Vũ và Pháp Lôi. Khi hiệu lệnh phát ra, dân làng Đậu và làng Tướng phải khiêng kiệu của hai bà từ chùa Dâu ra tam quan, xa khoảng 200m, kiệu làng nào đến trước thì bà đó thắng cuộc. Theo tục truyền, nếu bà Pháp Vũ thắng thì năm đó mưa nhiều, dễ lụt, nên để tránh tại hoạ mưa lụt, thường bao giờ là Pháp Lôi cũng thắng. Đến chiều là cuộc thi múa trống trận của 12 làng trong tổng Khương Tự. Tiếp theo là múa rồng, múa lân, múa hạc, đấu vật và nhiều trò chơi khác... Đến chiều ngày mồng 9, tất cả lại rước sang chùa Tổ một lần nữa, rồi rước về chùa Dâu. Khi đến tam quan, Pháp Vân ngự giữa sân chùa để các bà em trước khi vào ngự trong chùa phải lần lượt bái lễ chị cả. Đêm ngày mồng 9, cả 5 vị được rước đi tuần khắp 12 làng trong tổng, vừa đi vừa múa trong ánh đuốc. Khi đoàn rước về đến chùa mình, các bà em vái chào tạm biệt các chị để về chùa, theo thứ tự Pháp Điện rồi đến Pháp Lôi, Pháp Vũ và cuối cùng là tượng Pháp Vân và Thạch Quang Phật được rước về chùa Dâu.

Lễ hội chùa Dâu là một lễ hội độc đáo thu hút nhiều du khách đến tìm hiểu, tham dự. Dân gian còn lưu truyền câu ca dao:

Dù ai đi đâu về đâu

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về

Dù ai buôn bán trăm bề

Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu

Chùa Dâu đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá quốc gia ngày 28/4/1962.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt