<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Câu chuyện trị thuỷ của vua Pô Klaung Girai

Nằm cách trung tâm thành phố Phan Rang – Tháp Chàm hơn mười sáu cây số theo quốc lộ 27, đập Nha Trinh có lịch sử hình thành và thời gian sử dụng đã hơn 800 năm, đây quả thực là công trình thủy lợi không chỉ có ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương mà còn có ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa văn hóa cũng như giá trị du lịch to lớn mà tiền nhân đã để lại cho đất và người nơi đây.

Đập Nha Trinh - Ninh Thuận

Từ xưa đến nay, nhắc đến Phan Rang thì điều đầu tiên khiến người ta nhớ nhất đó là cái nóng nung người và khí hậu khô cằn như sa mạc. Dân chúng trong vùng thường nói đùa khi tả về quê hương mình là xứ “nắng như rang, gió như phang”. Quả thật, suốt dãi đất ven biển từ Bắc Miền Trung và Nam Trung Bộ, thì có thể nói Phan Rang là vùng khô nhất, đất ở đây chủ yếu là đá, khô nóng đến mức ít có loài cây nào chịu đựng được. Các dòng sông con suối ở đây thì hầu như khô hạn quanh năm, nhưng khi mùa mưa đến thì nước chảy rất hỗn, khiến đời sống và sản xuất nông nghiệp của dân chúng hết sức khó khăn. Chính môi trường ấy, đã tạo trong tâm thức của người dân vùng này về sự quí giá của nước. Các triều đại trong quá khứ khi trị vì vùng đất này đều cố gắng trị thủy để giúp cho đời sống của chúng dân được no đủ. Trong đó, công trình thủy lợi Nha Trinh là một ví dụ tiêu biểu cho nỗ lực này, nó có lịch sử đầy tính huyền thoại mà mãi cho đến ngày nay cả chính sử và giả sử vẫn có độ chênh nhất định khi xác định thời gian cũng như triều đại đã cho xây dựng con đập này.

Truyền thuyết trong dân chúng kể lại rằng, đập Nha Trinh (theo tiếng Chăm là Chakling, sau này dân Kinh đọc trại đi thành Nha Trinh) do vua Pô Klaung Girai chủ trì xây dựng, và ông cũng chính là vị thần được dân thờ trong ngôi tháp trên núi Trầu. Nhưng theo các nghiên cứu sử học, thì vua Pô Klaung Girai chính là Suryavarmadeva, một con người nổi tiếng bởi máu phiêu lưu và một thân thế đầy sóng gió; còn ngôi tháp thờ ông là tác phẩm của vua Jaya Simhavarman (tức vua Chế Mân) dựng lên để tưởng nhớ tiền nhân của dân tộc mình.

Khác với chính sử, chủ yếu ghi lại chiến công của các vị vua chăm trên chính trường và chiến trường, thì các câu chuyện truyền thuyết lưu truyền trong dân gian lại có nội dung chủ yếu ghi nhớ sự đóng góp cho đời sống sản xuất của chúng dân. Nghĩ cũng đúng thôi, bởi người dân thời nào cũng thế, chỉ mong một cuộc sống no lành yên cơm ấm áo, đâu thích gì chuyện binh đao hay tranh quyền đoạt vị. Trong nhiều truyền thuyết về vị vua đã cho xây con đập, ngày nay còn phổ biến nhất là câu chuyện kể sau đây: Ngày xưa ở vùng đất này, có gia đình vợ chồng già nọ không con. Họ thường cầu mong trời đất phù hộ để ban cho họ một mụn con để đỡ cô quạnh lúc tuổi già. Một hôm, họ lội qua bến nước phía trên đập Nha Trinh bây giờ, và vô tình trông thấy một cái bọc trôi lềnh bềnh giữa sông. Ông bà vội vàng vớt lên, khi mở ra thì thấy bên trong có một bé gái rất xinh. Ông bà rất đỗi vui mừng, nghĩ là trời phật đã thấu lời khấn nguyện của mình và quyết định đem bé gái về nuôi. Thấm thoắt, cô bế đã lớn khôn và thường theo bố mẹ vào rừng đốn củi. Một hôm, trời nắng gắt, cô gái khát nước, mà khu rừng, nơi ba người đang hái củi, lại không có khe suối gì cả. ông già khuyên con gái ráng chịu, về nhà sẽ uống nước. Không chịu nổi cơn khát, cô gái lén đi tìm nước uống. Đi một quãng xa, cô thấy một tảng đá rất to, ở giữa tảng đá có một vũng nước trong vắt. Cô gái mừng rỡ, lấy tay vục nước uống. Khi ông bà già tìm thấy cô gái, thì vũng nước tự nhiên cạn dần. Ba người cho là điềm lạ, đành quay về. Từ hôm đó, tự nhiên cô gái thụ thai. Tới tháng, cô sinh được một bé trai mình mẩy ghẻ lở trông hết sức kinh tởm. Ông bà già rất quý cháu, nuôi cháu rất cấn thận và đặt tên cháu là Pô Ông. Lên bảy tuổi, Pô Ông đi chăn bò cho nhà vua. Một hôm, vì mê chời cùng lũ trẻ, Pô Ông để lạc một con bò trong đàn. Chạy tìm kiếm khắp nơi mà không thấy, Pô Ông bèn trèo lên một cây cao để nhìn, và thấy con bò của mình đang bị cột trong vườn một ngôi nhà to lớn. Mừng quá, Pô Ông tụt vội xuống đất, làm cho cây rung chuyển. Cây bỗng trở nên đỏ chói, rồi biến thành một con rồng. Con rồng đứng yên nhìn chàng trai một cách kính cẩn. Pô Ông nhờ một người lớn đến xin lại con bò. Không ngờ, chủ ngôi nhà ấy là một vị thầy cả có cô con gái xinh đẹp. Thấy Pô Ông ghẻ lở đầy mình, cô gái vội thưa với cha hãy trả bò cho anh ta và đuổi anh ta đi. Nhưng người cha thấy trên người chàng trai có những tướng lạ, thì rất vui mừng. Ông nói cho con gái biết điều đó và hứa gả con gái mình cho Pô Ông. Một thời gian sau, Pô Ông kết thân với một người bạn tên là Pô Klông Chanh và rủ nhau đi buôn trầu. Thường ngày, hai người về nghỉ ở một chỗ rồi thay phiên nhau về nhà lấy cơm ra cùng ăn. Một hôm, đến lượt Pô Klông Chanh đi lấy cơm, còn Pô Ông thì nằm nghỉ và ngủ thiếp đi. Khi Pô Klông Chanh trở lại thì thấy một cảnh tượng kỳ lạ: một con rồng đang liếm khắp thân mình ghẻ lở của Pô Ông, bao nhiêu vết ghẻ lở của Pô Ông biến mất, còn Pô Ông thì biến thành một chàng trai đẹp lạ thường. Một hôm, nhớ tới chàng trai chăn bò ghẻ lở, vị thầy cả tìm đến kết thân. Pô Ông nhận cô con gái thầy cả làm vợ. Được ít lâu, vị vua băng hà, nhưng không có hoàng tử kế vị. Trong khi triều đình lo nghĩ, thì con voi trắng của hoàng cung phá chuồng chạy thẳng tới chỗ Pô Ông, quỳ xuống và đưa vòi ra tỏ ý mời. Tưởng voi có chuyện gì cần đến mình, Pô Ông nhảy lên mình voi. Voi đưa chàng trai về kinh thành. Các triều thần biết đây là ý trời bèn tôn Pô Ông lên làm vua. Pô Ông đăng cơ với tên gọi là Pô Klaung Girai. Pô Ông tỏ ra là một vị vua tài ba, có tài dẫn thuỷ nhập điền. Ruộng vườn, trước kia khô cạn, nhờ có ngài mà tươi tốt. Dân chúng no ấm hơn xưa. Ngài cho làm một chiếc bè bằng thân cây chuối, đặt ít đất lên bè rồi thả bè trên sông Dinh, đọc thần chú cho bè trôi ngược dòng. Khi chiếc bè trôi đến Nha Trinh, ngài hô “dừng lại”. Lập tức, bè chìm xuống và biến thành cái đập lớn chắn ngang sông. Ngài chỉ cho dân đào hai con mương để dẫn nước vào ruộng mà ngày nay vẫn gọi là mương Chăm. Nữ đào mương bên phải, nam đào mương bên trái. Vì cứ lo đi chòng ghẹo các cô gái, nên bên nam đào mương rất chậm. Con mương bên trái vì thế đành bỏ dở, không dùng được...

Theo số liệu đo đạc hiện nay, đập Nha Trinh là một công trình thủy lợi đồ sộ, ngoài phần thân đập chính dài 385m, cao 5m và rộng 3m, thì còn có một hệ thống mương dẫn rất dài, trong đó Mương Chăm (chính là mương cái do phụ nữ đào theo truyền thuyết) dài đến 60 cây số, còn mương Đực (tức mương do nam giới đào) dài khoảng 50 cây số. Dưới phần thân đập chính, Nha Trinh còn có bốn đập con được xây liền kề để tích nước vào mùa khô. Tổng diện tích đất nông nghiệp ăn nguồn nước của hệ thống thủy lợi này lên đến hơn 12.000ha, trải rộng trên hai huyện An Nhơn và Ninh Hải.

Ngày nay, Nha Trinh vẫn là một trong những công trình thủy lợi lớn của tỉnh Ninh Thuận, không chỉ giúp tưới tiêu sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt, cung cấp nguồn thủy sản tôm cá, đập còn đóng vai trò xanh hóa môi trường khô hạn của vùng đất này, cũng như có giá trị sinh thái để phát triển du lịch, hiện đã có nhiều dự án du lịch đang chuẩn bị để khai thác tiềm năng này, làm cho Nha Trinh phát huy hết giá trị kinh tế, lịch sử và văn hóa của nó.


©2018 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt