<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Đình Bát Tràng

Đình Bát Tràng thuộc thôn Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Từ trung tâm Hà Nội qua cầu Chương Dương (hoặc cầu Long Biên), rẽ phải theo đê sông Hồng khoảng 10km tới gần sát công trình thuỷ nông Bắc Hưng Hải, rẽ xuống dốc bên phải đi khoảng 800m là tới đình.

Lịch sử
 

Đình Bát Tràng - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Đình Bát Tràng được xây dựng từ lâu đời. Ban đầu, đình chỉ là một ngôi miếu nhỏ làm bằng tranh tre dựng ngoài bãi sông. Mặt đình hướng ra sông Hồng. Tới năm Bảo Thái nguyên niên đời Lê Dụ Tông (1720), đình được trùng tu trên nền của ngôi đình cũ. Lần trùng tu cuối vào năm 1992 - 1993, xây cổng đình và làm lại nhà tiền tế. Đình Bát Tràng thờ sáu vị thành hoàng gồm Bạch Mã đại vương, vốn là thần gốc của Hà Nội, Tràng Thuận Nghi Dung, Phan Đại tướng (tên thật là Phan Chính Nghị, đỗ tiến sĩ năm 1511, quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh), Cai Minh Đại vương, Lưu Thiên Tử Đại vương. (thiếu 1 người). Các vị thần trên đều được các triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn ban sắc phong.

Trong kháng chiến, đình đã bị bom Mỹ phá hủy. Năm 1993, dân làng đã góp tiền của dựng lại đình theo kiến trúc truyền thống. Tại đình còn giữ được một số đồ tế khí như ngai thờ, bát bửu, chuông đồng, kiệu bát cống, hai biển gỗ tạo vào thời Minh Mạng, cùng nhiều hoành phi, câu đối cỡ lớn, mỗi chữ có thể coi là một tác phẩm thư pháp độc đáo. Đình Bát Tràng còn giữ được 50 đạo sắc phong thần có niên đại thời Lê, thời Tây Sơn, thời Nguyễn.

Kiến trúc
 

Đình Bát Tràng được xây dựng trên một khu đất cao gần sát bờ sông Hồng và là một ngôi đình bề thế, to đẹp nhưng đã bị máy bay Mỹ phá huỷ hoàn toàn. Trong các năm 1972, 1992, 1993, nhân dân địa phương đã quan tâm đóng góp để xây lại đình theo kiến trúc truyền thống. Đình gồm đại đình và hậu cung. Đại đình được xây theo kiểu hai tầng tám mái với các góc đao cong, đầu đao đắp hình đầu rồng, bờ nóc đắp lưỡng long chầu nhật. Trong đại đình có bày một nhang án cổ chạm rồng lộng lẫy.

Cung cấm được xây dựng sau đại đình khoảng 2m, trong đó đặt 5 pho tượng cổ được đưa về từ các ngôi miếu làng bị bỏ hoang. Trên bệ thờ cung cấm đặt long ngai, bài vị thờ Thành hoàng. Các hiện vật đều có niên đại ở thế kỉ XVII, XVIII và được tạo tác rất công phu.

Trải qua bao biến động lịch sử, tuy bị mất mát nhiều nhưng hiện vật ở đình Bát Tràng còn khá phong phú gồm bát bửu, hương án, biển gỗ, ngai thờ, án văn, chuông đồng, kiệu bát cống trang trí tỉ mỉ, sáu pho tượng, hoành phi, câu đối, riêng sắc phong đã có 44 đạo.

Một số câu đối còn lại trong đình là

Nguyên văn:

蒲移手藝開亭宇

蘭熱心香拜聖神

Phiên âm:

Bồ di thủ nghệ khai đình vũ

Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần

Dịch nghĩa:

Đem nghề từ làng Bồ ra khởi dựng đình miếu

Lòng thành như hương lan cúng tạ thánh thần.

Nguyên văn:

兩界交爭圖畫入

重門煙月太平開

Phiên âm:

Lưỡng giới giao tranh đồ họa nhập

Trùng môn yên nguyệt thái bình khai

Dịch nghĩa:

Ranh giới giữa hai nơi đẹp như tranh vẽ

Cửa từng lớp, khói che mặt trăng, mở ra một thời thái bình, thịnh trị.

Nguyên văn:

五行秀氣煄英傑

萬丈文光表吉祥

Phiên âm:

Ngũ hành tú khí chung anh kiệt

Vạn trượng văn quang biểu cát tường

Dịch nghĩa:

Nơi tụ hội khí thiêng hun đúc nên những bậc anh hùng hào kiệt

Ánh sáng văn hóa tỏa xa vạn dặm biểu hiện sự cát tường.

Lễ hội
 

Trước đây, Bát Tràng vào đám hội từ ngày 15 đến ngày 22 tháng hai âm lịch. Trước Tết, vào ngày 25 tháng Chạp, làng đem lễ vật đến làng Đuốc (làng kết chạ với Bát Tràng) xin chặt tre làm cây nêu. Ngày 7 tháng Giêng làm lễ hạ nêu. Cây tre làm nêu được dùng để chẻ tăm, vót đũa. Trước khi vào đám độ 10 ngày, làng tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng để bao sái bài vị thần ở ngôi miếu bên sông. Sau đó dân làng rước bài vị thần ra đình tế lễ. Khi tế, các họ được rước Tổ của mình ra phối hưởng. Họ Nguyễn Ninh Tràng (họ đầu tiên đến làng Bát Tràng) được rước bát hương có lọng che vàng đi ở giữa. Các họ khác rước bát hương có lọng che xanh đi né sang hai bên. Khi tế, chỉ có các vị khoa mục (những người đỗ đạt) mới được vào đình, còn các hào mục (những chức dịch trong làng) đứng ngoài hầu lễ. Bát Tràng còn lệ giữ nghiêm ngôi thứ. Tại đình trải 4 chiếu cạp điều. Có chiếu dành cho các vị đậu tiến sĩ, có chiếu dành cho võ quan được phong tước công, có chiếu dành cho các cụ thọ từ 100 tuổi trở lên. Có năm không đủ người, chiếu nào trống thì làng đặt một cây đèn, chai rượu, đĩa trầu cau vào giữa chiếu để thờ vọng. Hằng năm vào ngày Rằm tháng hai, ngày đầu tiên vào đám, làng biện lễ cúng Thành hoàng gồm một con trâu tơ thật béo, thui vàng rồi đặt lên một chiếc bàn lớn sơn son, kèm theo 6 mâm cỗ và 4 mâm xôi. Tế xong, các quan viên chức sắc, đại diện 20 dòng họ cùng thụ lộc.

Hội Bát Tràng có nhiều trò diễn, độc đáo nhất là trò chơi cờ người và hát thờ. Theo lệ, trước hội, làng chọn lấy 2 bà tướng cờ là những người phẩm hạnh, giàu có nhất trong làng. Mỗi bà tướng nhận 16 thiếu nữ tuổi từ 10 đến 15 xinh đẹp, nết na nuôi ăn uống và may cho áo quần thật đẹp. Các cô được rèn tập làm quân cờ trong một tháng mới được ra biểu diễn thi đấu ở sân đình.

Công việc chuẩn bị cho hát thờ cũng công phu không kém. Làng tổ chức 3 chầu thi và 4 chầu cầm để chọn bài và người vào hát thờ, sau đó mời các đội đàn hát ở các làng xung quanh đến tập để kén giọng. Đội nào vượt lên nhất qua “4 chầu cầm” sẽ được hát thờ trong lễ hội năm đó.

Hiện nay, hội đình Bát Tràng chỉ còn tổ chức trong hai ngày 15 và 16 tháng Hai âm lịch. Tuy hội đã đơn giản đi rất nhiều nhưng vẫn còn lưu giữ những nghi lễ rước nước, tế lễ cũng như các trò chơi dân gian.

Hội đình Bát Tràng hàng năm thu hút nhiều người dân địa phương lân cận cũng như khách du lịch đến tham dự.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt