<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Đình Phú Nhuận
quân Phú Nhuận - thành phố Hồ Chí Minh

Vị trí

Đình Phú Nhuận nằm tại số 18 đường Mai Văn Ngọc, phường 10, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

Lịch sử

Hiện nay, còn nhiều ý kiến khác nhau, về thời gian thành lập đình Phú Nhuận, nhưng ý kiến được nhiều người ủng hộ nhất, là đình được xây dựng vào đầu thế  kỷ 19. Qua các tài liệu Hán Nôm trong đình cho thấy, mốc thời gian sớm nhất, mà đình được ghi chép  bằng văn tự là sắc phong của vua Tự Đức ban cho vào năm 1852. Đó là văn bản cổ xưa nhất, xác định danh tánh ngôi đình, chính vì vậy, nhiều người đã lấy mốc xây dựng đình là năm 1852, bởi họ chưa tìm thấy một bằng chứng nào chắc chắn hơn.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến khác cho rằng: Đình Phú Nhuận được tái thiết vào năm 1852, nghĩa là đình đã có từ trước đó. Theo di tích còn lại hiện nay, là một cây đòn võng trên nóc đình có khắc chữ Hán " Tự Đức ngũ niên ", nghĩa là năm Tự Đức thứ năm - tức năm 1852. Đình được tái thiết, vì lúc đầu, nằm ở vị trí khác, bên bờ một con kinh đào (đã lấp), bên cạnh chùa Cây Sai (chùa Phú Thạnh) trên con đường Huỳnh Văn Bánh hiện nay. Vào khoảng giữa thế kỷ 19, dân cư bắt đầu quy tụ về vùng Phú Nhuận, phần lớn, họ thuộc gia đình binh sĩ vào đóng ở trấn Phiên An, hoặc di dân từ "đàng Ngoài" vào. Ông Lê Tự Tài, quê ở Bắc Bộ vào Gia Ðịnh rất sớm, có công huy động dân khẩn hoang, lập ấp ở quanh vùng cầu Kiệu. Ông Tài, từng là thôn trưởng thôn Phú Nhuận và trở thành Xã trưởng, khi Phú Nhuận đổi thành xã, do đó, người ta quen gọi ông là xã Tài. Nhận thấy đình Phú Nhuận, trước kia nằm ở vị trí vùng trũng, gần rạch Thị Nghè, thường bị lầy lội vào mùa mưa nên xã Tài hiến cho làng Phú Nhuận hai mẫu đất trên gò Kim Qui, để dời đình về vị trí hiện nay.

Theo các tài liệu hiện có ở đình, năm 1852 khi mới tái thiết, đình Phú Nhuận, do hội tề làng Phú Nhuận quản trị, kinh phí xây dựng do quỹ làng xuất ra và một phần do dân làng tự ngyện đóng góp.

Kiến trúc

Kiến trúc phụ

Đình Phú Nhuận, từ ngoài vào có ba cổng. Cổng thứ nhất nằm trên đường Nguyễn Văn Trỗi. Cổng thứ hai nằm trên đường Nguyễn Thị Huỳnh. Cng thứ ba nằm trên đường Mai Văn Ngọc, ngăn cách với đường ray xe lửa bằng một hàng rào. Nơi mặt tiền vách tường rào khuôn viên đình, có đắp nổi tấm bình phong, có hình chúa sơn lâm bước hùng dũng từ trên núi xuống (có nơi còn đắp cảnh rồng vờn hổ), là biểu tượng chỉ "âm dương hòa hợp", là tín ngưỡng thờ xã tắc của tiền nhân (xã là thần đất đai, tắc là thần bảo vệ mùa màng), nhằm cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống ấm no, thanh bình. Phía sau bức bình phong hình hổ, là dấu vết bệ thờ Thần Nông. Theo tục lệ, người ta thờ Thần Nông ngoài trời, không mái che, vì theo truyền tích, nhà mái xuôi do bà Cửu Thiên Huyền Nữ dạy dân làm ra, bằng cách chống tay lên hông mình như dạng cái thước nách sau này, điều đó làm vị thần Nông (thần nam giới) tự ái, không chịu ở trong nhà, vì như thế có nghĩa là ở "dưới nách phụ nữ".

Vào trong sân, bên phải có miếu thờ "Nhị Vị Công Tử", tức cậu Trí và cậu Quý - con thần Pô Nagar của người Chăm. Ðối diện với miếu này về phía trái là miếu thờ "Ngũ hành nương nương", tín ngưỡng chỉ 5 yếu tố tạo thành vũ trụ: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trước kia, miếu này nằm trong phạm vi đình, nhưng nay, do mật độ dân cư chung quanh đình phát triển khiến khuôn viên đình hẹp dần, đẩy lùi miếu ra khỏi vòng rào của đình.

Chánh điện

Chánh điện gồm ba gian, bố cục hình vuông (cạnh 11m) theo kiểu kiến trúc tứ tượng  (tượng trưng cho nhật nguyệt tinh thần), với cột gỗ, kèo gỗ chạm hình đuôi rồng được xây dựng vào năm 1920. Đây là khu vực quan trọng nhất của đình, vì là nơi thần ngự trị. Đình làng miền Nam nói chung và đình Phú Nhuận nói riêng, rất phức tạp về phương diện tín ngưỡng. Ngoài chức năng thờ thần hoàng bổn cảnh và tiền hiền, hậu tiền (là những người có công khai khẩn đất đai, xây dựng tu bổ làng xã) đình còn thờ nhiều vị thần thuộc mọi tín ngưỡng dân gian của các cư dân địa phương khác nhau (như Việt, Hoa, Khmer, Chăm...). Các bàn thờ được xếp thành ba dãy, dãy giữa gồm các bàn thờ thần, hai bên là bàn thờ tả ban và hữu ban. Bàn thờ chính, ở phía trong cùng thờ sắc thần, do vua Tự Đức ban cho vị thần thành hoàng đình Phú Nhuận là Maha Cần. Tương truyền, dân làng Phú Nhuận đã góp tiền cử bốn vị hương chức tuyển chọn trong số bậc kỳ lão danh nho, những người uyên thâm nhất làng ra kinh đô Huế thỉnh sắc. Làng Phú Nhuận thỉnh được sắc vị vua phong cho thần hiệu là "Cai Cờ chưởng uý thành hoàng đại vương trung thần", vị này vốn là một võ tướng gốc dân tộc ít người, chỉ huy tượng binh theo phò chúa Nguyễn Ánh,  trong những ngày chạy trốn nghĩa quân Tây Sơn lên vùng cao nguyên. Phía trên dãy bàn thờ ngoài cùng, treo 3 tấm liễn khá độc đáo: tấm giữa bằng chữ Hán "Hộ quốc bảo dân" (giúp nước bảo vệ dân). Tấm bên trái, bằng chữ quốc ngữ phỏng theo kiểu chữ triện "thần quang châu lục" được chạm vào khoảng đầu thế kỷ. Tấm liễn bên phải bằng chữ Hán theo kiểu chữ triện "Phú Nhuận Ðình". Những cây cột trên chính điện đều treo các câu đối chạm gỗ mang nội dung ca tụng công đức của thần, ví dụ hai câu đối phía cột ngoài cùng diễn giải ý nghĩa của hai tù Phú Nhuận:

富 彊 佈 賴 地 靈 世 世 欣 看 人傑出

Phú cường ngưỡng lai địa linh, thế thế hân khang nhân kiệt xuất.

潤 澤 欽 蒙 天寶 年 年 快 睹 物 華 生

Nhuận trạch khâm mông thiên báo, niên niên khoái đổ vật hoa sinh.

Dịch nghĩa:

Giàu mạnh nhờ vào đất linh, đời đời vui mừng khi thấy nhân tài xuất hiện

Sung túc do trời ban ơn quý, mỗi năm hạnh phúc khi ngắm hoa cỏ sinh sôi

Tiếp theo chánh điện là võ ca, được xây dựng năm 1930. Đây là nhà dùng để hát bội, bên trong có xây sân khấu và khán đài. Hát bội, hát chầu được phát sinh chính từ khát vọng cầu đảo sự bình yên. Vào ngày lễ kỳ yên hàng năm, ở vỏ ca thường diễn vở "Tứ Thiên Vương" (bốn vị vua trấn bốn phía trời: Đông, Tây, Nam, Bắc để trông coi việc vận hành gió mưa). Qua tuồng tích này, người dân nhằm cầu mong mưa thuận gió hòa, đó chính là dấu vết tín ngưỡng cổ xưa của cư dân nông nghiệp.

Cuối cùng là nhà túc. Được xây dựng năm 1940, dùng làm nơi còn nghỉ ngơi cho khách thập phương. Nhà Túc đặt 3 bàn thờ: bàn giữa thờ "Tiên Sư", hai bên là Tiền viên chứ và Hậu viên chức.

Chức năng

Theo tập quán dân gian thời phong kiến, đình làng vừa là nơi thờ tự, vừa là một trung tâm hình chính tư pháp, sinh hoạt văn hoá, lễ hội nhộn nhịp nhất của địa phương trong một năm. Ngoài ra, Đình làng còn là thước đo trình độ dân trí dân sinh của một vùng trong thời kỳ nhất định. Vì lẽ đó, đình Phú Nhuận có các chức năng sau:

  • Chức năng tín ngưỡng: Đình làng là nơi thờ thành hoàng, nơi chính thức cử hành các nghi lễ của các ngày lễ tết dân tộc.

  • Chức năng hành chính: Đình là nơi nhà vua giá lâm khi đi kinh lý các làng thôn, là nơi xã trưởng làm việc và ban hội tề bàn việc trị dân xử án.

  • Chức năng sinh hoạt văn hoá: Trong mỗi lễ, thì sau phần lễ, đều có phần hội. Đó là lúc làng tổ chức vui chơi ca hát và diễn xướng, để nhân dân sinh hoạt văn hoá, là nơi văn háo làng được thể hiện. Chính vì vậy, đình làng góp phần bảo tồn giá trị văn hoá dân gian.

Lễ hội

Kỳ lễ quan trọng nhất của đình, là lễ Kỳ Yên, được tổ chứa vào ngày rằm tháng Giêng hằng năm, với các nghi lễ :

  • Tục lệ tụng kinh cầu an

  • Lễ thỉnh sắc và hồi sắc

  • Nghi lễ xây chầu

  • Lễ đại hội

  • Tục hát chầu và quy ước cầm chầu

  • Lễ tôn vương

  • Lễ hồi chầu

  • Tục thỉnh lộc thần ý lợi sư

  • Lễ đưa khách

  • Xin xăm và xin keo

  • Lễ rằm tháng tám

  • Lễ thỉnh đón xuân (vào cuối tháng chạp).


quận Phú Nhuận - thành phố Hồ Chí Minh

Đình Phú Nhuận hiện toạ lạc tại số 18 đường Mai Văn Ngọc, phường 10, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

Đình Phú Nhuận lúc đầu được xây dựng bên bờ rạch Thị Nghè. Sau đó, ông xã trưởng Lê Tự Tài đã hiến cho làng một khu đất cao ráo nhất làng gọi là "gò kim qui" để dời đình về đây. Thôn Phú Nhuận lúc đó thuộc tổng Bình Trị, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình - trấn Phiên An. Đình Phú Nhuận được xây dựng trước năm 1853. Sau khi xây xong đình Phú Nhuận, các cụ trong hội đình mới ra kinh thỉnh sắc của vua Tự Đức ban cho đình vào năm 1853. Ban đầu đình chỉ có võ qui và chánh điện. Sau đó người dân góp tiền xây thêm nhà túc.

Năm 1930, đình được trùng tu phần lớn nhà túc, chánh điện và võ qui, xây dựng thêm võ ca và nhà hậu. Năm 1966, trùng tu lần thứ hai: đình được thay cửa gỗ bằng cửa sắt, thay gạch tàu bằng gạch bông, sửa chữa hậu trường (buồng hát). Năm 1989, trùng tu võ ca và nhà hậu. Năm 1998, trùng tu phần chánh điện.

Đình Phú Nhuận đã qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được nét cơ bản của ngôi đình cổ miền Nam thế kỷ 18-19: mặt bằng hình chữ L ngược, có hai trục, trục chính nằm ở phía bên phải (tính từ trong ra), trước trục phụ là phần sân đình. Trên trục chính gồm có: võ ca - võ qui - chánh điện. Trên trục phụ gồm có: nhà thảo bạt - nhà túc - sân thiên tỉnh - nhà bếp - nhà kho - nhà vệ sinh.

Đình Phú Nhuận có 3 cổng: cổng số 1 giáp đường Nguyễn Văn Trỗi, cổng số 2 giáp đường Nguyễn Đình Chính, cổng số 3 giáp đường Mai Văn Ngọc. Đình quay về hướng đông - hướng về phía rạch Thị Nghè. Phía trước đình bên trái có miếu nhị vị Công tử, bên phải có miếu Ngũ hành, bia ông Hổ và bàn thờ Thần Nông.

Ngày lễ lớn nhất của đình Phú Nhuận là lễ Kỳ Yên, được tổ chức vào ngày 16-17-18 tháng Giêng. Lễ vật chính cúng thần là con heo đen tuyền sắc. Ngày 16 tháng Giêng là ngày lễ chính.

Nhìn chung đình Phú Nhuận là ngôi đình có giá trị về mặt văn hóa xã hội, điêu khắc và kiến trúc. Đình đã được Bộ Văn Hóa - Thông tin ký quyết định số 3744 - QĐ/BVHTT ngày 29/11/1997 công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật.

Du khách có thể tham quan đình theo các tour nội thành thành phố của các công ty du lịch hoặc đến tham quan tự túc bằng các phương tiện như xe ôm, taxi hay xe buýt.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt