<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Vùng Đồng Tháp Mười

Tổng quan
 

Vùng đất trũng ở phía Bắc của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nằm trong địa bàn tỉnh Long An, tỉnh Tiền Giangtỉnh Đồng Tháp. Nơi đây nổi tiếng với những cánh đồng cò bay thẳng cánh, được xem là vựa lúa lớn nhất của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Đồng Tháp Mười cũng được biết đến như là nơi hiếm hoi ở Việt Nam còn lưu giữ được những giá trị sinh học của vùng đất ngập nước như: Vườn quốc gia Tràm Chim, Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười.

Quy mô diện tích
 

Vùng Đồng Tháp Mười có tổng diện tích 697.000 ha, được bao quanh bởi các giồng đất cao ven biên giới Việt Nam – Campuchia, đê tự nhiên dọc sông Tiền và giồng biển cổ dọc theo quốc lộ 1A (Tân Hiệp – Nhị Quý, Cai Lậy) và chặn lại bởi sông Vàm Cỏ Đông. Tỉnh Long An, có đến 66% diện tích nằm trong khu vực này, bao gồm các huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Thạnh HoáĐức Huệ. Tỉnh Đồng Tháp có hai huyện nằm trong vùng là Tam NôngTháp Mười. Tỉnh Tiền Gianghuyện Tân Phước nằm trong vùng.

Lịch sử tên gọi
 

Truyền thuyết dân gian

- Giả thuyết I: Ngày xưa, cánh đồng này thuộc một vương quốc giàu có. Trong nước có mười quốc vương, mỗi ông có xây cho mình một ngôi tháp làm nơi an nghỉ cuối cùng; ngôi tháp của ông vua thứ 10 là hoàng tráng nhất. Khi an táng nhà vua, người ta chôn theo cung phi mỹ nữ và vàng bạc châu báu.

- Giả thuyết II: Cho rằng đây là cái chùa tháp thứ mười, tính từ Lục Chân Lạp xuống, nối liền các chùa tháp này là các con đường lót đá.

- Giả thuyết III: Đây là cái tháp mười tầng của Chân Lạp; có lẽ, theo thuyết này nên năm 1958, chính quyền Sài Gòn cho xây lại một cái tháp mười tầng cao 42 m, theo kiểu tháp chùa Thiên Mụ (Huế).

- Giả thuyết IV: Đây là tháp canh thứ 10 (tính từ vàm Ba Sao vào Gò Tháp), hoặc 10 tầng (còn gọi là thang trong) của nghĩa quân Thiên hộ Dương để canh chừng quân Pháp.

Tài liệu văn bản cổ

- Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (hoàn thành khoảng 1820): ở tập Thượng, vùng Đồng Tháp Mười được goị là Vô-tà-ôn (tr.14), chằm lớn, với tư cách là một danh từ chung (tr. 63) và Lâm Tẫu (tr. 69).

- Sách Đại Nam nhất thống chí - Lục tỉnh Nam Việt (hoàn thành sau Gia Định thành thông chí vài chục năm): ở tập Trung, vùng nầy, được gọi là chằm Mãng Trạch (tr. 9) và là hồ Pha Trạch (tr. 20).

- Bản đồ của Pháp vẽ năm 1862 (để thi hành hoà ước Nhâm Tuất), vùng này được ghi là Plaine inondée couverte d’herbe (tức Cánh đồng ngập nước đầy cỏ), sau đó họ ghi gọn lại là Plaine des Joncs (tức Đồng Cỏ Lát hay Đồng Cỏ Bàng).

- Châu bản triều Nguyễn (CB số 287, tờ 1 đến tờ 3) ngày 1 tháng 3 năm Tự Đức thứ XVIII (tức ngày 27-03-1865), trong đó có đọan:”...Lại việc nữa: quan Tây có đến Vĩnh Long nói: tháng chạp qua, đảng của Thiên hộ Dương, tên Quản Là đã đánh giết bốn người Tây, bắt sống một. Nói lên rằng đã giãi đến Vãng Tháp ( 往 塔)nộp cho Thiên hộ Dương...” Cũng trong châu bản CB số 287 này, từ tờ 143 đến tờ 145, ngày 7 tháng 6 năm Tự Đức thứ XIX (tức ngày 18-7-1866), lại có đoạn viết: ”...Tên phạm đó (tức Võ Duy Dương) tự có cách nuôi duỡng riêng của nó, nhưng điều ác trong thiên hạ chỉ là một vậy. Luật là phép nước, há lại dung tha một ai? Trước đây tên phạm đó ẩn náo ở Thập Tháp, nơi tiếp cận với ranh giới tỉnh Vĩnh Long, chỉ có nơi đó mới được nghiêm ngặt phòng triệt...”

- Công báo Nam kỳ thuộc Pháp: đưa tin : “Ngày 17-04-1866 đã chiếm được Tháp Mười”.

- Báo cáo của Thiên hộ Võ Duy Dương gởi cho vua Tự Đức trong năm 1865, 1866; bị quân Pháp tịch thu vào tháng 4-1866, được Gustave Janneau dịch và công bố trên Revue Indochinoise, số 2, năm 1914, dưới nhan đề “ Deux rapports militaires du Général VO DI DUONG”, tên Tháp Mười, viết bằng quốc ngữ, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

- Trong Dossier SL.4522 (1869-1881), Lưu trữ tại TT.LT.Tư II (hồ sơ ghi chép về cái chết và người vợ thứ của Võ Duy Dương); trong đó có báo cáo mật thám, có đoạn viết: “Tôi có vinh hạnh cung cấp ông những tin tức về Thiên hộ. Người này tên là Dương bỏ trốn sau khi Tháp Mười bị chiếm, đã lên một chiếc ghe cửa đi Bình Thuận, trước khi đến xứ nầy, ông ấy đã bị tên Lý Sen, cầm đầu một đám cướp biển tấn công...” (chữ Tháp Mười được viết bằng quốc ngữ).

Công trình nghiên cứu lịch sử và khảo cổ học

- Lê Hương, trong bài “ Địa danh, di tích, thắng cảnh trong vùng người Việt gốc Miên” đăng trong tạp san Sử Địa, số 14&15, Sài Gòn, 1969, cho rằng: Tháp Mười là một trong những ngôi tháp bằng đá, do vua Jayavarman VII (1181-1218) xây cất trên khắp lãnh thổ để thờ vị thần Bà la môn Lockecvara là vị thần có chức năng tri bịnh cho nhân loại. Bên cạnh tháp có những căn nhà sàn? lợp bằng đá mỏng, hoặc bằng ngói hay lá thốt nốt, để cho ngưòi ốm nằm dưỡng bịnh do các nhân viên y tế của hoàng triều phụ trách. Những ngôi tháp nầy được xây dọc theo những con đường lớn trong nước mà ngôi tháp trong đồng Tháp Mười, tính từ điểm xuất phát, đứng vào hàng thứ mười. Thời gian đã tàn phá công trình kiến trúc nầy, tiêu tan, chỉ còn lại một tượng sư tử và một linh phù (linga) bằng đá, dưới bệ có khắc chữ Bắc phạn (Sanskrit) ghi tên tháp thứ mười. Năm 1932, nhà khảo cổ người Pháp, Parmentier, vào Tháp Mười phát hiện ra ngôi tháp đổ nát và đã đọc những dòng chữ phạn ghi tên ngôi tháp thứ mười.

- Trong hai quyển “ Lịch sử thế giới trung đại” (của Lương Ninh và Đặng Đức An) và “Lịch sử Campuchia” (của Phạm Trung Việt, Nguyễn Xuân Kỳ và Đỗ Văn Nhung) đều có nêu: vua Jayavarman VII (Chân Lạp) lập 102 bệnh viện phân bổ trong toàn vương quốc mà cả bốn đẳng cấp đều có thể được chăm sóc tại đây. Mỗi bệnh viện đều có xây một ngôi chùa nhỏ và ngôi tháp thờ thần trị bịnh Lokecvara. Người ta đã tìm thấy trên 30 bệnh viện trong đó có 15 nơi đã tìm thấy cả bia đá với nội dung giống nhau, nói về ý định, việc cung ứng, tổ chức và chửa bệnh.

- Các nhà khảo cổ học thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ (H. Parmentier, L. Malleret, J.Y Chalys): Cho rằng từ thế kỷ V đến thế kỷ VIII, gò Tháp Mười mang tên Prasat Pream Loven có năm ngôi tháp hay năm ngôi đền thờ chớ không phải có năm ngăn (compartiménts) hay năm phòng (chambre) và đã từng là một trung tâm tôn giáo khá quan trọng, có liên quan đến sự kiện “ Vị thái tử Gunavarman, mặc dù còn trẻ tuổi đã được phong cho trị vì một lãnh thổ sùng đạo được chinh phục từ đầm lầy, vì ông là người vừa có đạo đức, vừa có phẩm hạnh...” Riêng L. Malleret, căn cứ trên những gạch đổ nát của một số nền móng cũ cho rằng, trên gò còn có khả năng phát hiện thêm ba ngôi tháp hay ba ngôi đền thờ nữa . Theo Vương Hồng Sển thì: “...chính ông Sylvestre, thanh tra bổn quốc sự vụ (Inspecteur des affaires Ingènes) viếng chỗ nầy trước năm 1881, và nhờ ông tả rõ “tour à cinq faces” (préam loveng) mới biết tháp có năm mặt tiền, xưa nay dịch theo Thổ là “Tháp Năm Căn” (loven travée) là sai, và nên gọi là “Tháp Ngũ Giác” (Ngũ giác tháp) còn ta gọi là Tháp Mười, có lẽ tháp có mười tầng hay chăng? Thổ đếm “diện” nên thấy “ngũ giác” , ta đếm “tầng” nên thấy “mười tầng” (dầu sao nay tháp đã đổ nát, không phương giảo nghiệm được)”.


©2022 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt