<
Trang chủ » Tri Thức Việt
Từ khóa Toàn văn
Đặng Tiến Đông

Sơ lược
 

Đặng Tiến Đông, sinh ngày 2-5 năm Mậu Ngọ (nhằm ngày 18-06-1738 dương lịch), tại Thăng Long, nay là huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.

Ông xuất thân trong một gia tộc lớn, có truyền thống làm quan nhiều đời ở làng Lương Xá, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Ông làm quan thời Lê -Trịnh, sau gia nhập nghĩa quân Tây Sơn. Thân thế và sự nghiệp hiện nay còn gây nhiều tranh cãi trong giới sử học.

Mộ ông tọa lạc ở thôn Đầm Dền, xã Đại Yên, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Ngày nay, ở quận Đống Đa, thành phố Hà Nội có một con phố mang tên ông. Phố này dài trên 1.000 m, rộng 5 - 7 m nối từ phố Tây Sơn đến phố Hoàng Cầu.

Gia tộc họ Đặng
 

Họ Đặng là một gia tộc lớn, nổi tiếng với nhiều người thành đạt, quê gốc ở làng Lương Xá, nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Trong kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện có bộ Đặng gia phả ký có đoạn nói đến nguồn gốc họ Đặng ở làng Lương Xá "vốn là họ Trần đổi ra họ Đặng", lúc đầu còn giữ lại là Đặng Trần, các đời thế thứ về sau mới đệm lót khác đi.

Về nguyên nhân họ Trần cải thành họ Đặng, hiện có 2 thuyết giải thích như sau:

- Ý kiến thứ nhất cho rằng, vào đầu đời Lê, một người con của họ Trần là Trần Văn Huy đỗ tiến sĩ, lấy tự là Đặng Hiên, từ đó, con cháu lấy tự của cha làm họ.

- Ý kiến thứ hai cho rằng, vào năm Tân Mùi (1511) (Lê Tương Dực - Hồng Thuận năm thứ 3), một người con của họ là Trần Tuấn khởi binh chống nhà Lê. Cuộc khởi nghĩa thất bại, để tránh bị truy sát, con cháu họ Trần kéo về làng Lương Xá lập nghiệp và đổi sang họ Đặng.

Đời thứ 5 của họ Đặng là Đặng Huấn (có tài liệu chép là Đặng Đình Huấn, sinh năm 1519 - mất năm 1590 hay 1583?), ban đầu ông giữ tước quan binh Khổng lý bá nhà Mạc. Năm 1549, ông cùng với Lê Bá Ly quy thuận nhà Lê (Lê Trung Tông, niên hiệu Thiệu Bình 1). Sau nhờ có công giúp nhà Lê trung hưng nên được phong tới chức Thái úy, tước Nghĩa Quốc công rồi Hữu Trạch công. Con gái ông là Đặng Thị Huệ lấy chúa Trịnh Tùng sinh ra chúa Trịnh Tráng. Từ đó, họ Đặng trở thành một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan lớn trong suốt thời Lê - Trịnh. Nối tiếp từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, con cháu Đặng Huấn truyền được 8 đời, đời nào cũng có người được phong chức tước cao. Theo thống kê sơ bộ có 31 người được phong Quận công, 88 người được phong từ tước Hầu đến tước Nam, 19 lượt người được sai giữ chức Trấn thủ, 3 người được tham dự triều chính.

Đầu thế kỷ XIX trong cuốn Lịch triều hiến chương loại chí, nhà sử học Phan Huy Chú đã dùng những lời đẹp đẽ khi viết về họ Đặng ở Lương Xá: “... Ở làng Lương Xá có nhà dòng dõi làm tướng, đời đời làm quan...”, “... Họ Đặng từ Nghĩa Quốc công Đặng Huấn là công thần thời Trung Hưng...”, “Về sau con cái đời đời vẻ vang, được phong Quận công, được lấy Công chúa và được làm Trấn thủ rất nhiều, hơn 200 năm giàu sang mãi mãi” (tr. 275).

Vùng Chương Mỹ ngày nay còn lưu truyền câu ca dao ngợi ca họ này như sau:

Bao giờ chợ Chúc hết người,

Sông Ninh hết nước, Đặng này hết quan.

Gia phả
 

Gia tộc họ Đặng ở Lương Xá từng có tất cả 9 bộ gia phả:

- 2 bộ viết trước năm 1654 được Đặng Thế Khoa nhắc lại trong bài Gia phả chung quyển luận.

- 1 bộ do cụ Thế Khoa viết năm 1654 trên cơ sở tổng gộp 2 bộ gia phả trước.

- 1 bộ do cụ Đình Tướng viết năm 1686.

- 1 bộ phả chi Ất cụ Đình Tướng được đọc năm 1729.

- 2 bộ do cụ Đình Quỳnh viết năm 1729 và 1763.

- 1 bộ do cụ Tiến Đông viết năm 1792.

- 1 bộ do cụ Phái viết năm 1938 .

Hiện nay họ Đặng Lương Xá còn giữ được 3 bộ phả:

- Đặng gia phả hệ toàn chính thực lục, do Đại đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông biên soạn năm 1792. (1)

- Đặng gia phả ký tục biên biền thuyết, do Tham đốc Hiển Trung hầu Đặng Đình Quỳnh biên soạn năm 1763. (2)

- Đặng thế gia phả ký do cụ Đăng Văn Phái – một nhà báo quê ở xã Thuỵ Hương, huyện Chương Mỹ, biên soạn năm 1938. Năm1998, gia tôc họ Đặng vùng Lương Xá đã lấy bản do chính cụ Đặng Văn Phái đánh máy bằng chữ quốc ngữ, tham khảo bản do con cụ ấn hành ở Miền Nam trước năm 1975 để chỉnh lý, đánh máy và phát hành rộng rãi.

Hai bộ gia phả (1 và 2) viết bằng chữ Hán, được lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và ở một số chi họ, hai bộ được đóng làm một ngoài bìa mang tiêu đề Đặng gia phả ký. Năm 2000, Viện đã ấn hành bản dịch ra chữ quốc ngữ của nhóm PGS Trần Lê Sáng và hai ông Nguyễn Huy Thức, Nguyễn Hữu Tưởng. Bản dịch được xuất bản và phát hành rộng rãi.

Tiểu sử Đặng Tiến Đông
 

Thân thế và sự nghiệp

Đặng Tiến Đông - 鄧進東 là cháu đời thứ 6 của Nghĩa Quốc công Đặng Huấn, cháu nội của Thái tể Đại tư không Yên Quận công Đặng Đình Liễu (có công với chúa Trịnh nên được mang quốc tính, gọi là Trịnh Liễu). Về thân phụ của ông, Đặng gia phả ký, trang 356 dòng 3 - 8 cho biết Đặng Tiến Đông là con trai thứ 8 của cụ Dận quận công Đặng Tiến Miên va cụ bà thiếp Phạm Thị Yến, sinh ngày 2 tháng 5 năm Mậu Ngọ (1738). Một số tài liệu khác cho rằng, thân phụ của ông là Đặng Đình Miên, Đặng Tiến Cẩm. Các anh của ông là Đặng Đình Trí, Đặng Đình Thiệu, Đặng Đình Cầu, Đặng Đình Tự, Đặng Đình Giám, Đặng Đình Tú và Đặng Đình Hữu. Về sau, Đặng Tiến Đông đổi tên thành Đặng Tiến Giản - 鄧進暕. Tại trang cuối quyển 6, gia phả họ Đặng do ông biên soạn, Đặng Tiến Đông có chép một đoạn về mình: "戊 午 五 月 初 二 , 癸 丑 時 , 生 弟 八 子 “東” , 後 改 “暕”以 字 彙 云 : 重 阴 积 雨 之 后 忽 見 日 色 也 ,故 知 名 焉 - Mậu Ngọ ngũ nguyệt sơ nhị, Quý Sửu thì, sinh đệ bát tử ”Đông”, hậu cải ”Giản” dĩ tự vựng vân: Trùng âm tích vũ chi hậu hốt kiến nhật sắc, cố tri danh yên". Dịch nghĩa là: ”Năm Mậu Ngọ, tháng 5, ngày 2, giờ Quý Sửu, sinh con trai thứ 8 là Đông sau đổi tên Giản, theo nghĩa chữ Giản là: sau khi mây mù tích mưa bỗng thấy ánh mặt trời, cho nên đặt tên như thế” .

Đặng gia phả ký, trang 353 dòng 1 - 4 viết “Năm Đinh Mão, Cảnh Hưng thứ 8 (1747) lúc đó Tiến Đông 10 tuổi, vâng mệnh cha mẹ về chùa Thủy Lâm ở làng quê Lương Xá theo học Doãn Xá tiên sinh”. Năm 1749, Đặng Tiến Đông mồ côi cha, 10 năm sau, mẹ ông qua đời. Năm 1763, Đặng Tiến Đông thi võ đỗ Tạo sĩ và ra làm quan. Năm 1782, con trưởng chúa Trịnh Sâm là Trịnh Khải dựa vào quân Tam Phủ giành lại ngôi chúa từ tay em là Trịnh Cán - con của Tuyên phi Đặng Thị Huệ. Sau khi giết Phụ chính Hoàng Đình Bảo và bắt Tuyên phi Đặng Thị Huệ, quân Tam Phủ lùng bắt các quan họ Đặng và họ Hoàng. Anh ông là Đặng Đình Thiệu cùng 30 người họ Đặng Khác hộ tống Tuyên phi bỏ trốn, bị Trịnh Khải bắt được và đem xử chém tại xã Nghi Kiều (huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Đặng Tiến Đông phải bỏ quan đi trốn để tránh sự truy quét của chúa Trịnh Khải.

Những năm cuối đời chúa Trịnh (1784) ở Đàng Ngoài triều đình Lê-Trịnh đổ nát; trong khi đó ở Đàng Trong, Trương Phúc Loan chuyên quyền, phong trào Tây Sơn nổi lên tiêu diệt chúa Nguyễn, rồi Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc diệt họ Trịnh. Năm 1786, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai với khẩu hiệu “phù Lê diệt Trịnh”. Giữa năm sau (1787), Đặng Tiến Đông tìm vào Quảng Nam xin yết kiến Nguyễn Huệ. Từ đây, thân thế và sự nghiệp của ông bắt đầu gây nên một cuộc tranh cãi lớn cho giới sử học sau này.

Đô đốc Đông có phải là Đô đốc Long?

Theo nội dung sắc phong năm Thái Đức thứ 10 (15-08-1787), Đặng Tiến Đông được triều Tây Sơn phong là Đô đốc đồng tri, tước Đông Lĩnh hầu, trấn thủ Thanh Hoa (nay là Thanh Hoá). Ở làng Lương Xá ngày nay, trước chùa Thủy Lâm còn tấm bia đá Tông đức thế tự bi, khắc ngày 16 tháng 6 âm lịch (1797). Văn bia do Phan Huy Ích soạn, Ngô Thì Nhậm sửa chữa, góp ý. Ở tấm bia này, Đặng Tiến Đông được gọi là "Quan đô", chỉ chức Đô đốc đồng tri do vua Quang Trung phong cho ông. Theo nội dung văn bia này, sau khi yết kiến Nguyễn Huệ, ông được cho làm Trấn thủ xứ Thanh Hoa và lập được công lớn trong đại chiến Đống Đa mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789), được mọi người biết đến với tên gọi khác là đô đốc Long. Trong khi đó, tác giả Nguyễn Quang Thắng - Nguyễn Bá Thế, trong quyển Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam - NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh tái bản năm 2006, trang 167 - 168, có dẫn một đoạn chép theo gia phả họ Đặng ở Lương Xá rằng: "衛 國 尚 將 軍 鎮 守 清 華 兼 藝 安 鎮 都 督 鄧 嶺 侯 鄧 將 公 大 負 四 月 拾 卒 ,皇 朝 昭 統 元 年 二 月 吉 暇 篷 查 - Vệ quốc thượng tướng quân trấn thủ Thanh Hoa kiêm Nghệ An trấn Đô đốc Đặng Lĩnh hầu Đặng tướng công đại phụ tứ nguyệt thập tốt, hoàng triều Chiêu Thống nguyên niên nhị nguyệt cát hạ phùng tra”. Nguyễn Quang Thắng dựa vào đây cho rằng Đặng Tiến Đông mất vào ngày rằm tháng tư (theo Hán văn thì là tháng 2, có lẽ tác giả ghi nhầm) triều Chiêu Thống năm thứ nhất (1787) Đinh vị. Theo cách lý giải này, Nguyễn Quang Thắng phủ định ý kiến cho rằng Đô đốc Đông là đô đốc Long. Theo ông, người chỉ huy đạo quân Tây Sơn đánh đồn Khương Thượng rồi thọc sâu vào Thăng Long, góp phần quan trọng vào chiến thắng Đống Đa năm 1789 là Lê Văn Long - người làng Trường Xuân, nay thuộc thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Sách Tây Sơn Nguyễn Huệ của Nguyễn Trọng Trì, Ty Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình, 1978, trang 410, trong mục Tây Sơn lương tướng ngoại truyện ghi: "Đô đốc Đặng Văn Long, tự Tử Vân, quê huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn". Sách Nhà Tây Sơn của Quách Tấn - Quách Giao, Sở VHTT Nghĩa Bình, 1988, trang 152 - 159 ghi "Đặng Văn Long, tự Tử Vân, người huyện Tuy Viễn (Tuy Phước), phủ Quy Nhơn" … "Đại đô đốc Đặng Văn Long tham gia đại phá quân Thanh 1789… có viên phó tướng là Đặng Tiến Đông quê ở Lương Xá, gần Thăng Long, làm quan thời chúa Trịnh, sau quy thuận nhà Tây Sơn, am hiểu tình hình vùng Thăng Long, nên làm nhiệm vụ dẫn quân đi đường tắt". Dựa vào tư liệu này, có thể xác định đô đốc Đông không phải là đô đốc Long, đồng thời bác bỏ quan điểm của Nguyễn Quang Thắng cho rằng ông mất năm 1787.

Sách "Quang Trung Nguyễn Huệ - con người và sự nghiệp" của giáo sư sử học Phan Huy Lê, Sở VHTT Nghĩa Bình, 1988, trang 37, viết: "Mũi tiến công vu hồi bất ngờ do Đô đốc Long (Đặng Tiến Đông?) chỉ huy đánh vào đồn Đống Đa, rồi thọc sâu vào bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Lương". Ở đây giáo sư Phan Huy Lê đặt một dấu hỏi chấm về Đặng Tiến Đông, tức vẫn tồn nghi.

Trong một tài liệu lưu trữ tại Thư viện tỉnh Quảng Ngãi, nhà sử học Bùi Thiết viết: "Theo sách Hoàng Lê nhất thống chíTây Sơn lương tướng ngoại truyện thì Đô đốc Long chính là Đặng Văn Long, người tham gia đánh quân Thanh tại trận Đống Đa. Không thể có cách nhầm lẫn dù trong tên gọi và trong tự dạng ông Long thành ông Đông… Việc tìm hiểu nhân vật Đô đốc Long chỉ mới bắt đầu. Là một kết luận khoa học, còn phải thảo luận thêm."

Trong sách Tư liệu về Tây Sơn Nguyễn Huệ trên đất Nghĩa Bình, Sở VHTT Nghĩa Bình, 1988, tập 1, trang 275 ghi: "Có người cho biết đô đốc Đặng Văn Long, quê ở thôn Cảnh Vân, xã Phước Thành, huyện Tuy Phước. Tháng 04-1987 chúng tôi đã đến Cảnh Vân để điều tra. Nhưng kết quả cho thấy các họ lâu đời ở đây là họ Trần, họ Nguyễn, họ Lê, họ Phạm, chứ không có họ Đặng và cũng không một ai biết Đô đốc Đặng Văn Long thời Tây Sơn".

Tạp chí Cẩm Thành số 1, Sở VHTT Quảng Ngãi, tháng 08-1994, trang 39, 40; số 10, 1997, trang 52 - 54, dẫn lời một số nhà nho cao tuổi Quảng Ngãi cho biết ra Đô đốc Nguyễn Tăng Long, người làng Đông Thành, nay thuộc xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, là người có công xây dựng căn cứ Tây Sơn tả đạo, góp phần thiết lập triều đại Tây Sơn, là một trong các đô đốc có công đánh đuổi quân Thanh giải phóng Thăng Long năm 1789. Theo một số cụ già ở xã Tịnh Thọ thì cụ Nguyễn Tăng Long có sắc phong của vua Cảnh Thịnh (nhà Tây Sơn) ban chức đô đốc, ở quê thường gọi là "Đô Miên". Trong khi đó, bản kê danh tướng thời Tây Sơn tại Bảo tàng Quang Trung chỉ ghi "Long (hay Mưu)", không ghi rõ họ và quê quán. Phải chăng đã có sự nhầm lẫn giữa hai chữ "Miên" và "Mưu"?

Tạm kết luận
 

Từ những dẫn chứng nêu trên, người viết bài này có thể đi đến kết luận sau:

- Nguyễn Quang Thắng dẫn gia phả họ Đặng ở Lương Xá cho rằng Đặng Tiến Đông mất năm 1787 là chưa được thuyết phục. Bởi qua các tư liệu trên cho thấy, Đặng Tiến Đông đã tham gia nghĩa quân Tây Sơn trong trận chiến Đống Đa mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789). Trong trận chiến này, có tài liệu cho rằng ông chính là đô đốc Long - người chỉ huy đạo quân đánh đồn Khương Thượng; có tài liệu cho rằng ông là phó tướng dẫn đường cho đô đốc Long. Hơn nữa, theo Viện nghiên cứu Hán Nôm, quyển Đặng gia phả hệ toàn chính thực lục do Đại đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông biên soạn năm 1792, nghĩa là ông phải mất từ sau thời điểm này. Hơn nữa, theo phả của một số chi họ viết những năm cuối đời của Đặng Tiến Đông như sau: “Sau chiến thắng quân Thanh, Đặng Tiến Đông được phong Đại đô đốc, thống lỉnh hiệu Vũ Thắng vệ Thiên Hùng, được vua ban cho làng quê Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn, ông đã chiêu mộ dân trở về làm ăn và miễn thuế cho dân. Khi về trí sĩ, ông quy y Đạo Phật, cúng tiến tiền ruộng và đúc chuông tại các chùa, sửa chùa Trăm Giang và chùa Ba Xã. Ông mất ngày 15-4 năm Tân Dậu (1801), thọ 64 tuổi, và được thờ làm hậu Phật ở chùa Thuỷ Lâm và chùa Trăm Gian. Tại hai chùa này có bàn thờ và tượng của ông”.

- Đô đốc Đông có phải là đô đốc Long (hay Mưu) hay không, cần phải điều tra để xác minh thêm. Giáo sư Phan Huy Lê trong bài viết Đô đốc Long - Một tường Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa; nhà nghiên cứu Ngô Thế Long trong bài Một số tư liệu liên quan đến Đô đốc Đặng Tiến Đông đời Tây Sơn và nhóm tác giả biên soạn sách Đại cương lịch sử Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 1) tán đồng quan điểm cho rằng đô đốc Đông chính là đô đốc Long. Theo Tây Sơn lương tướng ngoại truyện của Nguyễn Trọng Trì thì đô đốc Long chính là Đặng Văn Long, người ở Tuy Viễn, Quy Nhơn. Còn theo những tư liệu, sự kiện sưu tầm được ở Quảng Ngãi (xưa là phủ Quảng Nghĩa, căn cứ Tây Sơn tả đạo, đã có nhiều võ tướng, văn thần thời Tây Sơn) thì ông Nguyễn Tăng Long, người làng Đông Thành, nay thuộc xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi rất có thể là đô đốc Long, người đã góp công lớn trong đại phá quân Thanh vào mùa xuân 1789.


©2021 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt